Chương 1: Cơ sở lý thuyết. Chương 2: Phân tích và thiết kế hệ thống website thương mại điện tử KOREAN FOOD. Chương 3: Triển khai hệ thống website thương mại điện tử KOREAN FOOD. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
TỔNG QUAN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm thƣơng mại điện tử Cùng với sự bùng nổ về Internet thì thuật ngữ thương mại điện tử đã ra đời. Có rất nhiều định nghĩa về thương mại điện tử như là: Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”. Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC): “Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”.
Nhưng hiểu một cách tổng quát, thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại truyền thống. Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại điện tử thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh. Lợi ích của việc sử dụng thƣơng mại điện tử 1. Cơ hội đạt lợi nhuận Nắm bắt được nhiều thông tin phong phú, giúp cho các doanh nghiệp nhờ đó mà có thể đề ra các chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển trong và ngoài nước.
Đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội mở rộng đối tác trên thị trường, nắm tình hình thị trường,… mà nhờ đó sẽ được biết đến tên tuổi công ty. Hiện nay thương mại điện tử đang được nhiều người quan tâm và thu hút rất nhiều thương gia doanh nghiệp trên thế giới, vì đó là một trong những động lực phát triển doanh nghiệp và cho cả nước. Giảm thiểu các hoạt động kinh doanh Giảm chi phí sản xuất, chi phí văn phòng, chi phí thuê mặt bằng,… Bên cạnh đó không cần tốn nhiều nhân viên để quản lý và mua bán giao dịch. Thương mại điện tử giúp giảm chi phí bán hàng và tiếp thị mà chỉ thông qua môi trường Web với một nhân viên vẫn có thể giao dịch với nhiều đối tác, khách hàng,… Đồng thời còn trưng bày, giới thiệu catalog đủ loại hàng hoá, xuất xứ của từng loại sản phẩm,… Do đó giảm được chi phí in ấn cho các catalog và giao dịch mua bán.
Điều quan trọng nhất là giảm được thời gian trao đổi đáng kể cho khách hàng và doanh nghiệp. Chỉ trong thời gian ngắn mà doanh nghiệp có thể nắm bắt được thị hiếu khách hàng và thị trường thay đổi mà nhanh chóng kịp thời cũng cố và đáp ứng cho nhu cầu đó. Chiến lƣợc kinh doanh Qua thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp có thể củng cố quan hệ hợp tác, thiết lập các quan hệ tốt hơn với bạn hàng, người dùng. Đồng thời ngày càng có điều kiện nâng cao uy tín trên thị trường.
Các yêu cầu trong thƣơng mại điện tử 1. Cơ sở hạ tầng Trong việc phát triển thương mại dựa trên hệ thống thông tin thì trước hết phải có một kĩ thuật máy tính điện tử hiện đại, Server, phần mềm hỗ trợ vững chắc những trang thiết bị tương đối hoàn thiện và đảm bảo thông tin bảo mật chống virus và cách phòng chống những nguy cơ bị xâm phạm ảnh hưởng quốc gia,… phù hợp với từng doanh nghiệp và theo đúng chuẩn mực do doanh nghiệp đề ra. Nhân lực Để có thể theo kịp và nắm bắt thông tin kịp thời trong thời đại thông tin thì phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ tin học, kỹ thuật điện tử, khả năng tiếp cận nhanh chóng các phần mềm mới. Tạo mối quan hệ bằng sự tin cậy Tin cậy là trọng tâm của bất kỳ giao tiếp thương mại nào, không những thể hiện giữa các phòng ban, thực hiện đúng luật pháp của các doanh nghiệp mà còn với khách hàng bằng sự tin tưởng về vấn đề sản phẩm hay phàn nàn, khiếu nại.
Đó là yếu tố tất yếu của nhà doanh nghiệp muốn kinh doanh lâu dài. Bảo mật và an toàn Trong thương trường giao dịch bằng Internet là yếu tố không mấy đảm bảo rằng vấn đề bảo mật và an toàn là cao. Với sự mạnh mẽ của Internet thì việc xâm nhập tài liệu cá nhân, các hợp đồng, tín dụng, dữ liệu,… sẽ bị lộ và tin chắc rằng sẽ không có người nào sẽ tham gia vào công việc mua bán qua mạng nữa. Một vấn đề đáng lo ngại nữa là mất dữ liệu, một hệ thống được xem là an toàn nhất vấn đề hàng đầu là trọng tâm để có thể cho mọi người, nhất là các doanh nghiệp có khả năng mua bán mà không thể đổ lỗi lẫn nhau.
Bảo vệ quyền lợi khách hàng và bản quyền kinh doanh Trong môi trường Interner là nơi các doanh nghiệp đầu tư sử dụng, trình bày sản phẩm, mua bán trao đổi thông tin hàng hoá thì vấn đề bản quyền là cần thiết giúp cho các doanh nghiệp an tâm, đảm bảo trong công việc phát triển và đồng thời ngăn chặn việc xâm phạm bản quyền, phiên dịch trái phép hay ăn cắp “chất xám”. Do đó vấn đề mua bản quyền trên mạng, việc xem hàng hoá thông qua sử dụng hình ảnh thì chất lượng và vấn đề thực tế bên trong sản phẩm đó là như thế nào thì không ai biết được do đó phải đề ra luật lệ và quy định đối với những người mua bán qua mạng. Hệ thống thanh toán điện tử tự động Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện một cách trọn vẹn nếu có một hệ thống thanh toán điện tử tự động. Nếu không có hệ thống này thì tính cách thương mại sẽ bị giảm thấp và chỉ mang tính ứng dụng trao đổi thông tin.
Theo tiêu chuẩn và mẫu của quốc tế thì việc mã hoá các hàng hoá theo mã vạch là 13 và mỗi công ty có một địa chỉ riêng của mình bằng một mã có số từ 100 đến 100. Nếu việc hội nhập và thiết lập hệ thống mã sản phẩm và mã công ty (mã thương mại) cho một công ty nói riêng và cho một nền kinh tế nói chung là không đơn giản. Các mô hình trong thƣơng mại điện tử B2B (Bussiness to Bussiness) là hình thức trao đổi mua bán giữa các nhà kinh doanh với nhau hay khác hơn là giữa các nhà cung cấp và công ty (không thanh toán bằng creadit card mà phải bằng việc xác nhận mua sắm bằng mail). Điểm chính yếu của mô hình này là thường dùng cho các tổ chức muốn tìm kiếm đối tác.
Điểm quan trọng khác của mô hình này là có thể liên lạc giữa các nhà cung cấp và 6 khách hàng. Trong việc kinh doanh mô hình này cho phép giữa hai nhà cung cấp và công ty có xảy ra thương lượng. B2C (Bussiness to Customer) là hình thức trao đổi mua bán giữa nhà kinh doanh với khách hàng. Điểm chính yếu của mô hình này là kinh doanh lợi nhuận.
Đây là hình thức thông dụng và được thanh toán thông qua bằng creadit card hay bằng các loại phương thức thanh toán khác. Tuy nhiên trong việc kinh doanh thì khách hàng không thể thương lượng với nhà kinh doanh. C3C (Customer to Customer) là hình thức trao đổi mua bán giữa khách hàng với khách hàng hay còn gọi là môi giới. Điểm chính yếu của mô hình này là cung cấp nhu cầu tìm kiếm thông tin của khách hàng.
Hình thức này có thể thanh toán bằng creadit card. Từ các mô hình trên, khoá luận tốt nghiệp này được thực hiện dựa việc phân tích, thiết kế website và cài đặt theo mô hình B2C. GIỚI THIỆU MỘT SỐ NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH NỀN TẢNG XÂY DỰNG WEBSITE 1. Tổng quan về ngôn ngữ HTML 1.
Giới thiệu về HTML HTML (Hyper Text Markup Language – Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản) là một sự định dạng để báo cho trình duyệt Web (Web browser) biết cách để hiển thị một trang Web. Các trang Web thực ra không khác gì ngoài văn bản cùng với các thẻ (tag) HTML được sắp xếp đúng cách hoặc các đoạn mã để trình duyệt Web biết cách để thông dịch và hiển thị chúng lên trên màn hình. Tên gọi ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản có ý nghĩa như sau: Đánh dấu (Markup): HTML là ngôn ngữ của các thẻ đánh dấu – Tag. Các thẻ này xác định cách thức trình bày đoạn văn bản tương ứng trên màn hình.
Ngôn ngữ (Language): HTML là một ngôn ngữ tương tự như các ngôn ngữ lập trình, tuy nhiên đơn giản hơn. Nó có cú pháp chặt chẽ để viết các lệnh thực hiện việc trình diễn văn bản. Các từ khoá có ý nghĩa xác định được cộng đồng Internet thừa nhận và sử dụng. Văn bản (Text): HTML đầu tiên và trước hết là để trình bày văn bản dựa trên nền tảng là một văn bản.
Các thành phần khác như hình ảnh, âm thanh,… đều phải được gắn vào một đoạn văn bản nào đó. 7 Siêu văn bản (HyperText): HTML cho phép liên kết nhiều trang văn bản rải rác khắp nơi trên Internet. Nó có tác dụng che dấu sự phức tạp của Internet đối với người sử dụng. Người dùng Internet có thể đọc văn bản mà không cần biết đến văn bản đó nằm ở đâu, hệ thống được xây dựng phức tạp như thế nào.
HTML thực sự đã vượt ra ngoài khuôn khổ khái niệm văn bản phổ biến. Trang mã nguồn HTML và trang Web Trang mã nguồn HTML là một tệp văn bản bình thường gồm các kí tự ASCII, có thể được tạo ra bằng bất cứ trình soạn thảo thông thường nào. Theo quy ước, tất cả các tệp mã nguồn của trang siêu văn bản phải có đuôi là “. Khi trình duyệt (Browser) đọc trang mã nguồn HTML, nó sẽ dịch các thẻ lệnh và hiển thị lên màn hình máy tính thì ta thường gọi là trang Web.
Vậy trang Web không tồn tại trên đĩa cứng của máy tính cục bộ. Nó là thể hiện của trang mã nguồn qua việc xử lý của trình duyệt. Như sau này ta sẽ thấy, các trình duyệt khác nhau có thể hiển thị cùng một trang mã nguồn không hoàn toàn giống nhau. Sự cải tiến HTML ở phiên bản HTML5 HTML5 là một chuẩn mới và là thế hệ tiếp theo của ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản – HyperText Markup Language explained (gọi tắt là HTML).
Các phiên bản trước của HTML, như HTML 4.01 đã ra đời từ năm 1999.