Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC. Khát quát chung về văn hóa công sở 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm, thuật ngữ được sử dụng và xuất hiện ngày càng phổ biến trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động quản lý nhà nước của mọi quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau mà mỗi tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về văn hóa.
Theo thống kê hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 260 cách hiểu khác nhau về văn hóa. Ở nghĩa bao hàm nhất, rộng lớn nhất, văn hóa được hiểu là tất cả những giá trị do con người sáng tạo, bắt đầu từ khi hình thành xã hội loài người. Ở phương Đông, thuật ngữ văn hóa đã xuất hiện từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hóa: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ.
Người được coi là sử dụng thuật ngữ văn hóa sớm nhất là Lưu Hướng (sống khoảng giai đoạn 77 TCN đến năm thứ 6 TCN), thời Tây Hán. Ông sử dụng thuật ngữ này như một phương thức giáo hóa con người - văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết). Ở phương Tây, khái niệm văn hóa bắt nguồn từ một thuật ngữ gốc Latinh là "cultusn animi" với nghĩa là trồng trọt tinh thần.
Từ "cultus" được hiểu là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên; khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng [45, tr. 8 Luan van Vào năm 2002, trong tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng của văn hóa, khái niệm văn hóa đã được định nghĩa như sau: "Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCO đưa ra một khái niệm về văn hóa vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”. Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa cũng được quan niệm và sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau, tương đối phong phú: Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ “Văn hóa” được giải nghĩa dưới 5 góc độ: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử.
Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống và tinh thần. Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu hiện cao về văn minh. Trong trình độ chuyên môn khái niệm văn hóa dùng để chỉ nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lưu lại được có những đặc điểm giống nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa rất sâu sắc: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [45, tr. 9 Luan van Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử. cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: Tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”. Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một số nội dung cơ bản của văn hóa như sau: Văn hóa là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc, đồng thời cũng là nơi thể hiện ý thức và phương thức tiếp nhận những giá trị của các dân tộc khác theo tinh thần cùng tham dự và cùng chia sẻ.
Văn hóa thuộc về nét riêng của con người và xét từ góc độ của quá trình tiến hóa, của nền văn minh mà con người đã và đang xây dựng thì văn hóa có thể được xem là một thành tựu của nhân loại. Có những giá trị văn hóa tồn tại lâu dài theo thời gian, làm nên bản sắc, đặc trưng riêng của mỗi quốc gia, dân tộc, tổ chức; tuy nhiên cũng có những giá trị văn hóa thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống chính trị, nền kinh tế - xã hội, các mối quan hệ giữa con người với con người. Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và là chìa khóa của sự phát triển. Văn hóa được xem là nhân tố quan trọng hình thành thói quen, cách suy nghĩ, phong cách và diện mạo của một con người hay một nhóm người, rộng hơn là của một vùng, một dân tộc nhất định.
Tóm lại, văn hóa trong luận văn này được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, một cộng đồng người tạo dựng nên, nhằm 10 Luan van mục đích đáp ứng và thoả mãn những nhu cầu của con người và các cộng đồng người nhất định. Khái niệm công sở Khái niệm “công sở” thường được sử dụng khá phổ biến trong những năm gần đây. Từ điển Pratique du Francais năm 1987 đưa ra khái niệm: “Công sở (service public) là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện và người được Nhà nước bổ nhiệm và bổ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình”. Từ điển Petit Larousee năm 1992 quan niệm: “Công sở (service public) là tổ chức (cơ cấu) có chức năng đảm nhiệm lợi ích công”; hay “công sở (établissement public) là một pháp nhân công quyền có quyền tự về tài chính, nói chung là chịu trách nhiệm đảm bảo một dịch vụ công”;và “công sở là phương thức quản lý các dịch vụ công: Đó là một dịch vụ công được pháp nhân hóa.” Theo Gustave Peiser - nhà luật học Cộng hòa Pháp thì thuật ngữ công sở và công sở tự quản là một khái niệm dùng chỉ các pháp nhân công: “Công sở là pháp nhân công quyền, chịu trách nhiệm tiến hành một trong các hoạt động của các đơn vị hành chính địa phương, thay mặt cho Nhà nước, cho tỉnh, cho công xã nhưng chịu sự kiểm tra các cấp đó.
66] Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng, công sở là một khái niệm thuộc phạm trù khoa học tổ chức và hành chính học. “Công sở là trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước nói chung.” “Công sở, xét về nội dung, là hoạt động thỏa mãn một yêu cầu lợi ích chung, do vậy cần được sự bảo vệ kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nước mới đảm bảo thỏa mãn nhu cầu này; xét về mặt hình thức tổ chức, là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện vật chất và người được Nhà nước hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ của mình.” “Công sở là những cơ quan nhà nước hoạt động nhân danh pháp nhân công pháp để thỏa mãn các nhu cầu của nhân dân.” 11 Luan van Hiểu theo nghĩa toàn diện, công sở gồm những đặc điểm cơ bản sau: Công sở chỉ gắn với Nhà nước và chỉ do Nhà nước thành lập và quản lý theo ý chí của Nhà nước, được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật. Quy chế hoạt động của công sở tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước. Thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của từng công sở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định; Công sở là một pháp nhân cụ thể có liên quan đến hoạt động công quyền hay dịch vụ công, nói cách khác công sở có tính đặc thù gắn liền với chức năng, nhiệm vụ được phân giao theo ngành, lĩnh vực hay lãnh thổ, được Nhà nước bảo đảm về mọi phương tiện để hoạt động đạt kết quả; Công sở có tài sản độc lập, sử dụng ngân sách nhà nước theo kế hoạch, có trụ sở hoặc các văn phòng đại diện trong phạm vi lãnh thổ; được tổ chức theo các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế khác; Công sở có tên gọi riêng và được khắc vào con dấu quy định, có quy chế công vụ, thực hiện đúng các bổn phận theo quy định, phải chịu trách nhiệm pháp lý trước cơ quan tài phán hành chính có thẩm quyền; Công sở có trụ sở giao dịch đặt tại các địa điểm trung tâm thuận tiện cho đi lại, giao tiếp và thực hiện các mối quan hệ bên trong và bên ngoài.
Có nhiều loại công sở: Công sở hành chính do Nhà nước, các bộ, các ủy ban nhân dân lập ra để làm chức năng tham mưu, hay phục vụ cho sự lãnh đạo, quản lý của các nhà chức trách, nó hoàn toàn tuân theo luật công; Công sở sự nghiệp là một pháp nhân công quyền do nhà nước lập ra có tính tự quản; đó là công sở hành chính được pháp nhân hoá. Nó là một thực thể đặc thù, nằm trong bộ máy hành chính và tuân theo luật công; 12 Luan van Công sở công ích là tổ chức của công quyền hay của tư nhân do tư nhân lập ra để làm những dịch vụ công cộng, nếu là tư nhân thì cũng được nhà nước công nhận là công ích và tuân theo luật công; Với định nghĩa và các đặc trưng của công sở trên đây, không thể hiểu công sở, theo nghĩa hẹp, là trụ sở của các cơ quan hành chính nhà nước.