phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết 8 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN 1. Quan niệm về văn hóa chính trị và văn hóa chính trị của sinh viên 1. Quan niệm về văn hóa chính trị 1. Văn hóa Văn hóa là một khái niệm phức tạp và đa nghĩa, gắn liền con người với đời sống xã hội loài người.
Từ lâu văn hóa đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Hiện nay đã và đang tồn tại rất nhiều các định nghĩa về văn hóa với những cách tiếp cận khác nhau. Thuật ngữ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh “Cultura” lúc đầu chủ yếu nói về quan hệ giữa con người với tự nhiên, có nghĩa là khai hoang, canh tác, gieo trồng cây lương thực. Sau này thuật ngữ trên được mở rộng sang lĩnh vực xã hội, nói về quan hệ giữa con người với con người, có nghĩa là chăm nom, giáo dục, nuôi dưỡng, giáo hóa, rèn luyện, hoàn thiện nhân cách con người.
Ngày nay văn hóa không chỉ được sử dụng để nói đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, mà còn nói lên mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện trình độ được giáo dục, nuôi dưỡng của con người. Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ văn hóa trong khoa học (1774) là Pufedorf (Đức) với nghĩa là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra và là cái đối lập với trạng thái tự nhiên. Theo cách tiếp cận hệ thống, văn hóa là một hoạt động sáng tạo, là hệ những giá trị do kết quả hoạt động sáng tạo của con người tạo nên. Tập thể các tác giả cuốn “Từ điển chính trị rút gọn” của Liên Xô trước đây quan niệm rằng: “Văn hóa là trình độ phát triển lịch sử nhất định của xã hội, là sức sáng tạo và khả năng của con người biểu hiện trong các phương thức tổ chức đời 9 z sống và hoạt động sáng tạo của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên” [37, tr.
Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi của sự sinh tồn” [48, t. Các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, mỗi định nghĩa đề cập đến một dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa.
Tựu chung lại, văn hóa có thể được hiểu theo một số cách: Văn hóa là đời sống tinh thần của con người, của xã hội loài người; Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra; Văn hóa là phương thức sống của cộng đồng, dân tộc, của xã hội. Trong luận văn này, khái niệm văn hóa được hiểu như một hệ thống các ý nghĩa và niềm tin với những biểu tượng và giá trị được các thành viên trong cộng đồng chia sẻ. Dựa trên các ý nghĩa và niềm tin đó, các thành viên trong cộng đồng sẽ có những tiêu chí giống nhau trong việc đánh giá, phân biệt cái đúng và cái sai, cái tốt và cái xấu, những điều nên làm và những điều không nên làm. Văn hóa chính là những gì nằm sâu trong tiềm thức của con người, định hướng cho các lựa chọn, cách suy nghĩ, cách hành xử của họ theo một chuẩn mực đã được cộng đồng chấp nhận.
Đây cũng chính là cách tiếp cận văn hóa từ góc độ hành vi. Có thể hiểu văn hóa biểu hiện trình độ phát triển của con người thông qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội và nhận thức của con người, văn hóa đã chia ra thành 10 z nhiều loại như: văn hóa đạo đức, văn hóa lao động, văn hóa tư duy, văn hóa giao tiếp, văn hóa môi trường… 1. Chính trị Chính trị là một lĩnh vực chính của đời sống xã hội kể từ khi xã hội phân chia thành giai cấp.
Đồng thời, khi giai cấp ra đời thì nhà nước cũng ra đời, nhà nước chính là biểu hiện cao nhất, tập trung nhất về chính trị. Chính trị là một phạm trù phức tạp nhất, nhạy cảm nhất và có vai trò ngày càng tăng trong đời sống xã hội. Chính vì thế, ngay từ thời cổ đại đã có rất nhiều nhà tư tưởng nghiên cứu về vấn đề này. Cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm, tư tưởng khác nhau về chính trị.
Platon, nhà Triết học cổ đại Hy Lạp, trong tác phẩm “Chính trị”, xem chính trị là “nghệ thuật cung đình” liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng, sự thông minh. Liên kết đó được thực hiện bằng sự thống nhất tư tưởng và tinh thần hữu ái. Cũng theo ông, chính trị là nghệ thuật cai trị, cai trị bằng sức mạnh độc tài, còn cai trị bằng thuyết phục mới đích thực là cai trị. Người Trung Quốc cổ đại coi chính trị là sự tác động, điều tiết xã hội để phát triển đúng đắn, là sắp đặt, quản lý xã hội có kỷ cương nền nếp, ổn định.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những quan điểm khá toàn diện về chính trị: Chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích giai cấp. Cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức quyền lực nhà nước, là sự tham gia vào công việc nhà nước, là định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung nhiệm vụ của nhà nước. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Đồng thời, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế.
Chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan tới vận mệnh hàng triệu người. Giải quyết những vấn đề chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. 11 z Theo cách hiểu của chúng tôi: Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như giữa các dân tộc và các quốc gia, các lực lượng xã hội với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội; là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái chính trị, các Nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích. Đây là quan niệm tiếp cận chính trị từ hai phương diện cơ bản.
Chính trị với tư cách là quan hệ đặc biệt của các chủ thể chính trị liên quan đến các vấn đề quyền lực chính trị, và chính trị với tư cách là hoạt động xã hội đặc thù của các chủ thể chính trị có liên quan tới vấn đề Nhà nước. Qua đó có thể thấy, chủ thể chính trị không chỉ là những người nằm trong chính quyền nhà nước, mà còn là những người dân tham gia vào những công việc liên quan tới nhà nước, trong đó có một lực lượng quan trọng đó là thanh niên, trí thức của một quốc gia. Như vậy chính trị là nhu cầu tất yếu của sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người. Chính trị là sản phẩm của hoạt động sáng tạo của con người, do bản thân con người thực hiện vì mục đích, lợi ích của chính con người.
Tính nhân văn của mục tiêu chính trị, tính khoa học của hệ thống chính trị, thiết chế chính trị và cơ chế chính trị; phương thức tổ chức và ứng xử chính trị phù hợp đạo lý con người, dân chủ và tiến bộ… nói lên VHCT.Văn hóa chính trị Trong hoạt động chính trị, đặc thù văn hóa của quốc gia, dân tộc, giai cấp và điều kiện kinh tế - xã hội cũng tác động rất lớn tới đặc điểm chính trị và sự tiến bộ của chính trị. Chính vì lẽ đó, thuật ngữ VHCT dần xuất hiện. VHCT là một bộ phận, một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp (có chính trị), nhưng điều đó không có nghĩa VHCT là phép cộng 12 z giản đơn giữa văn hóa với chính trị, mà đó là sự thẩm thấu, xâm nhập vào nhau, chuyền hóa lẫn nhau giữa văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa. VHCT được coi như một lĩnh vực, một biểu hiện của văn hóa trong xã hội có giai cấp.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng Hy Lạp, La Mã như Platon, Aristotle,. ở Trung Quốc như Khổng Tử, Lão Tử,… đã chú ý tới mối quan hệ giữa chính trị và văn hóa. Sau này các công trình nghiên cứu của các nhà tư tưởng thời kì khai sáng, cận đại như Môngtexkiơ, Rútxô và thời kỳ hiện đại như C.Mác cũng đã đề cập đến VHCT ở các khía cạnh và mức độ khác nhau. Tuy nhiên, VHCT chỉ xuất hiện với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập từ những năm 1950, gắn với công trình nghiên cứu của các nhà chính trị học Mỹ.
Thuật ngữ VHCT lần đầu tiên được sử dụng vào năm1956 với công lao thuộc về G.Almon và Sverby. Họ quan niệm hành vi chính trị là một phần của hành vi xã hội, cho nên khi phân tích hành vi chính trị phải gắn chặt sự xem xét các nhân tố văn hóa, tâm lý của cá nhân và toàn xã hội. Phải xem xét động cơ của hành vi chính trị là gì, Almon gọi đó là định hướng, nghĩa là VHCT bắt đầu từ định hướng chính trị. Trong cuốn Văn hóa công dân, hai ông đã viết: “Văn hóa chính trị nói về một loại thái độ đối với hệ thống chính trị và thái độ đối với vai trò của mình trong hệ thống chính trị đó” [42, tr.