phần mở đầu các sách giáo khoa logic. Kể từ năm 1978, phong trào này chính thức thể hiện tiếng nói của mình trong tạp chí “Informal Logic” (Logic phi hình thức), do Blair và Johnson biên soạn. Mặc dù với tên gọi khác, logic phi hình thức không phải là một ngành logic mới. Đó là một cách tiếp cận thông thường để tranh luận trong ngôn ngữ hàng ngày.
Như vậy, logic phi hình thức có phạm vi rộng hơn logic hình thức. Theo các nhà logic phi hình thức, tính hợp lệ và sự hợp nhất của lập luận không giống với tính hợp lệ hình thức trong logic suy luận. Blair và Johnson (1987) lập luận rằng các tiền đề cho một kết luận phải thỏa mãn ba tiêu chí: (1) “sự xác đáng”, (2) “sự đầy đủ”, và (3) “khả năng được chấp nhận”. Với sự xác đáng, câu hỏi đặt ra là có hay không: sự liên quan thích đáng và đầy đủ về nội dung giữa các tiền đề và kết luận, hoặc, sự cung cấp đủ bằng chứng cho kết luận của các tiền đề; với khả năng được chấp nhận, có thể xảy ra, đáng tin cậy hoặc đúng của các tiền đề.
Mục tiêu của các nhà logic phi hình thức là phát triển những tiêu chuẩn, tiêu chí và phương pháp cho việc giải thích, đánh giá và xây dựng lập luận. Các giải pháp được tìm kiếm cho 7 vấn đề phần lớn là: phân tích các cấu trúc lập luận, lập các sơ đồ lập luận, đánh giá lập luận, nhận diện các lỗi, cách tiến hành một cuộc thảo luận, v. Trước tình hình đó, logic phi hình thức là một hướng nghiên cứu toàn diện, trong đó lí thuyết lập luận đóng vai trò trung tâm, được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng. Có một sự chồng chéo nổi bật giữa các mục tiêu và phạm vi của logic phi hình thức và biện chứng dụng học.
Một sự khác biệt quan trọng là logic phi hình thức tập trung chủ yếu vào mối quan hệ giữa các tiền đề và kết luận, trong khi biện chứng dụng học bao quát tất cả các khía cạnh và giai đoạn của một cuộc TL quan trọng. Ngoài ra, các nghiên cứu logic phi hình thức sử dụng nhiều lí lẽ khác nhau trong khi biện chứng dụng học lại tập trung vào lí lẽ trực tiếp giải quyết sự bất đồng ý kiến. Sự khác biệt thứ ba bắt nguồn từ các cơ sở lí thuyết: trong phân tích lập luận, logic phi hình thức được thiết kế để khám phá các phẩm chất logic của diễn ngôn lập luận; biện chứng dụng học là để kiểm tra các đặc tính ngôn ngữ thực dụng được xem xét trong quá trình tái cấu trúc. Nghiên cứu lập luận từ quan điểm lập luận sai Tập trung vào các lập luận sai là một đóng góp đáng kể trong nghiên cứu lập luận.
Hướng nghiên cứu về lập luận sai (fallacies) có từ thời Aristotle, nhưng mãi tới năm 1970, công trình nổi tiếng Fallacies của C. Hamblin mới đặt ra những cách tiếp cận mới. Sau đó, được thực hiện bởi các nhà logic ở Canada: Woods và D. Cách tiếp cận hình thức của Woods và D.
Walton được thể hiện trong một loạt các bài báo và sách được viết chung hoặc độc lập. Các nguyên tắc cơ bản trong phương pháp tiếp cận của họ về các lập luận sai được giải thích trong công trình Lập luận: logic của những lập luận sai (Argument: Logic of the fallacies) (1982). Cách tiếp cận của Woods, D. Walton đối với các lập luận sai là “đa nguyên”.
Theo ý kiến của họ, các lập luận sai phải được phân tích theo những cách khác nhau. Quan điểm về phương pháp luận chung là các lập luận sai được phân tích một cách có ý nghĩa từ cấu trúc và lí thuyết về ngôn từ gắn với các hệ thống logic khác nhau, trong đó có hệ thống logic biện chứng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng sẽ được giải thích theo những kiểu logic nhất định. Theo quan điểm của Woods và D.
Walton, chúng sẽ là khác nhau tùy thuộc vào sai lầm trong câu hỏi phản biện. Chính họ đã tuyên bố rằng ít nhất một số ngộ biện/ ngụy biện nên được phân tích bằng một cách nào đó theo tiêu chuẩn hình thức. Khi phân tích lập luận sai, Woods và D. Walton dùng khái niệm biện chứng của Hamblin “bộ cam kết” và “rút lại” là công cụ phương pháp luận.
Vì vậy, phân tích của họ về các lập luận sai là theo định hướng hình thức, nhưng cũng biện chứng. Họ có xu hướng xếp những điều mà họ đã nhận ra thành ba mức độ “hình thức”. Đầu tiên, có những lập luận sai (chẳng hạn như lập luận sai 4 cơ sở) mà hình thức đặt theo cách thức nghiêm ngặt. Cấp độ 8 hình thức tiếp theo là những lập luận sai phi hình thức (chẳng hạn như những lập luận sai bởi sự mơ hồ) nếu xét một cách kĩ lưỡng, nhưng vai trò của chúng có thể được giải thích bằng cách tham chiếu đến các hình thức hợp lí.
Nhiều công trình nổi bật hơn của Woods và D. Walton nói về mức độ hình thức thứ ba được áp dụng cho các lí thuyết có khái niệm chính được phân tích bằng cách sử dụng ngôn ngữ và khái niệm của một hệ thống logic hoặc một số hệ thống hình thức khác. Walton (1982) nhấn mạnh tầm quan trọng về mặt lí thuyết của các lập luận sai điển hình như là những đặc điểm của các lập luận trong việc sử dụng ở thực tế. Một tính năng thực dụng của phương pháp tiếp cận này là thừa nhận nhiều ngữ cảnh, bối cảnh trong đó lập luận có thể được sử dụng.
Về mặt lí thuyết, tất cả các ngữ cảnh, bối cảnh này nên được xác định theo sự đánh giá chung của một cấu trúc đối thoại, nơi những người tham gia, các lượt lời, sự định vị, sự quan yếu, các yếu tố khác được xác định rõ ràng và chính xác trong sự trao đổi hội thoại. Danh sách các loại lập luận sai được đề cập đến trước hết là bởi các nhà logic học. Dựa trên những quy tắc suy luận, các nhà nghiên cứu nhận thấy thực tế sử dụng lập luận đã có nhiều trường hợp các cá nhân vi phạm quy tắc lập luận. Chúng được chia thành hai loại chính: lập luận sai ngôn ngữ (linguistic fallacies) và lập luận sai không phụ thuộc vào ngôn ngữ (non-linguistic fallacies).
Chúng còn được gọi là lập luận sai ngôn từ (verbal fallacies) và lập luận sai nội dung (material fallacies). Richard Whately lại phân chia lập luận sai thành hai nhóm: thuộc về logic và về nội dung. Theo ông, tiêu chí để phân chia hai loại này là có hay không có sự hợp lệ suy luận kết luận từ các tiền đề. Các lập luận sai logic không đảm bảo các quy tắc suy luận logic.
Trong khi đó các lập luận sai nội dung vẫn đảm bảo sự hợp lí trong phép suy luận từ tiền đề đến kết đề. Walton (1989) đã liệt kê ra các loại chính trong công trình: Informal logic [83, tr. Từ đó về sau đã có rất nhiều sự bổ sung khác nhau làm đầy cho danh sách các loại lập luận sai này (trên 200 loại tại [102]). Nghiên cứu lập luận từ quan điểm biện chứng hình thức Biện chứng hình thức đã được đưa ra bởi Barth và Krabbe trong From axiom to dialogue (1982), xây dựng dựa trên logic đối thoại của Lorenzen.
Họ mô tả một quy trình hình thức để kiểm tra xem một luận điểm đã cho có thể được duy trì một cách hợp lí dưới ánh sáng của các giả định nào đó hay không. Sự giải thích biện chứng của logic này được gọi là “biện chứng hình thức”. Trong lí luận, lập luận biện chứng hình thức được xem như là một cuộc đối thoại giữa người đề xuất và đối phương theo một chủ đề. Cả người đề xuất cùng đối thủ đều cố gắng tìm hiểu luận điểm có thể được bảo vệ thành công khỏi sự tấn công phê phán.
Trong sự tự vệ, người đề xuất có thể sử dụng 9 “sự nhượng bộ” của đối thủ (những phát biểu mà đối thủ sẵn sàng chịu trách nhiệm). Người đề xuất phải ngăn chặn bất kì cuộc tấn công nào đối với tuyên bố của chính mình. Anh ta có thể đưa ra một sự tự vệ trực tiếp hoặc thực hiện một cuộc phản công dựa trên “sự nhượng bộ” của đối thủ. Đối thủ có nghĩa vụ bảo vệ mọi “nhượng bộ” bị tấn công.
Nếu điều này dẫn đến việc anh ta không thể làm gì khác ngoài việc khẳng định điều mà đã tấn công sớm hơn trong cuộc đối thoại, khi đó, người đề xuất sẽ có lợi. Do đó, người đề xuất cố gắng điều chuyển đối thủ theo quan điểm này bằng cách khéo léo sử dụng các “nhượng bộ” của đối thủ. Nếu làm được như vậy, người đề xuất đã bảo vệ thành công quan điểm của mình nhờ vào các “nhượng bộ” của đối thủ. Các cuộc thảo luận được hình dung trong biện chứng hình thức về cơ bản khác với tranh luận thực tế thông thường.
Điểm bắt đầu giả định chỉ có thể xảy ra sau khi một bên trong cuộc thảo luận đã trình bày luận cứ để bảo vệ quan điểm. Nó phát sinh nếu hai bên quyết định khám phá xem quan điểm này có thể được duy trì trong ánh sáng của lập luận hay không. Các bên sau đó bắt đầu các thủ tục để kiểm tra xem quan điểm có thể được kết luận hợp lí từ các tiền đề đã trình bày trong lập luận hay không. Nếu thực sự tham gia với vai trò là đối thủ thì cần phải coi lập luận của người đề xuất là một tập hợp các “nhượng bộ” để làm cơ sở cho các “cam kết” của chính mình.
Nghiên cứu lập luận từ quan điểm biện chứng dụng học Có một số mối quan hệ trực tiếp giữa biện chứng hình thức và biện chứng dụng học [lí thuyết lập luận được phát triển bởi F. van Eemeren và Rob Grootendorst (1984, 1992)]. Việc sử dụng thuật ngữ chung “dialectic” (biện chứng), nên chúng có mục tiêu chung. Tuy nhiên, định hướng lí thuyết biện chứng dụng học khác với biện chứng hình thức.
Sự khác biệt này được thể hiện rõ ràng trong việc lựa chọn tiền tố pragma (tic) (thực dụng) thay vì formal (hình thức). Biện chứng dụng học (Pragma- dialectics) chủ yếu là một lí thuyết về diễn ngôn tranh luận, không phải là một lí thuyết logic. Không giống như các quy tắc biện chứng hình thức nhằm tạo ra các lập luận hợp lí, các quy tắc biện chứng dụng học nhằm giải quyết một sự khác biệt của ý kiến được dự tính như đại diện cho các điều kiện cần thiết để thực hiện một cuộc thảo luận quan trọng trong bài diễn ngôn tranh luận.