Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Diệu Thương nghiên cứu đề tài lập luận trong các lượt lời và hội thoại tranh luận trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam qua các phiên chất vấn, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (định hướng Ngữ dụng học và Phân tích diễn ngôn). Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh lý thuyết lập luận và logic phi hình thức đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới với sự tham gia của nhiều tổ chức học thuật như Hiệp hội Nghiên cứu Lập luận Quốc tế (ISSA), Hiệp hội Nghiên cứu Tranh luận Ontario (OSSA), Hội thảo Châu Âu về Lập luận (ECA), cùng các diễn đàn chuyên san như Informal Logic Journal và Journal of Argumentation.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu lập luận trong ngôn ngữ học khởi đầu từ các công trình có tính gợi dẫn của Đỗ Hữu Châu (1996) và Nguyễn Đức Dân (1996, 1998). Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét lập luận dựa trên quan điểm logic hình thức hoặc theo lý thuyết miêu tả của Oswald Ducrot trên cứ liệu tiếng Việt tĩnh. Hướng nghiên cứu trước đó nhìn nhận lập luận như kết quả của quá trình suy luận từ tiền đề đến kết luận trong cấu trúc nội tại của phát ngôn, để lại khoảng trống nghiên cứu về lập luận trong sự vận động tương tác hội thoại và bối cảnh tranh luận thực tế.

Về mặt thực tiễn, hoạt động tại Nghị trường Quốc hội Việt Nam đang hướng đến mục tiêu đổi mới theo quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV: “Chuyển từ Quốc hội tham luận sang Quốc hội tranh luận”. Mặc dù các đại biểu đã thể hiện nhiều lập luận sắc sảo, thực tế các phiên họp vẫn tồn tại những lập luận chưa thuyết phục, vi phạm các quy tắc suy luận hoặc quy tắc tương tác hội thoại. Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về lập luận và tranh luận nghị trường dựa trên bản chất của lý thuyết lập luận.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ đặc điểm của lập luận nhìn từ cấu trúc nội tại của từng lượt lời và đặc điểm lập luận đặt trong sự vận động, tương tác tranh luận; nhận xét một số vấn đề sử dụng lập luận trong các lượt lời hỏi/chất vấn, trả lời chất vấn, điều hành và mô hình tranh luận trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, hướng đến việc xây dựng lập luận hiệu quả trong bối cảnh chất vấn và ngữ cảnh tranh luận.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Thu thập, tổng thuật các tài liệu liên quan: các công trình nghiên cứu về lập luận trên thế giới và Việt Nam, văn bản ghi chép, băng truyền hình trực tiếp nội dung các phiên hỏi/chất vấn tại Nghị trường Quốc hội Việt Nam.
  2. Thống kê, phân loại các thành phần trong cấu trúc lập luận qua phiên chất vấn: các thành phần luận cứ, kết luận, lí lẽ; một số yếu tố ngôn ngữ (kết tử lập luận, tác tử lập luận); các kiểu mô hình lập luận thường gặp trong các lượt lời lập luận; các lập luận yếu/sai (/chưa thuyết phục); các hành vi hỏi và trả lời; phương pháp hỏi, trả lời, điều hành trong hội thoại tranh luận; các mô hình tương tác hội thoại của các đại biểu Quốc hội.
  3. Phân tích, đánh giá, lí giải lập luận dựa trên sự miêu tả, sơ đồ hóa các lập luận (cấu trúc, thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố), và lược đồ hóa các hội thoại tranh biện đặt trong mối quan hệ vận động tương tác (các tham thoại, hành vi hỏi/chất vấn và trả lời).
  4. Nhận xét về cách thức sử dụng lập luận từ kết quả phân tích thực trạng.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là lập luận qua những phiên chất vấn trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, được xem xét ở hai vai trò: thứ nhất, sản phẩm của quá trình nói năng xuất phát từ tiền đề để đi đến kết luận (lập luận trong cấu trúc nội tại của từng lượt lời); thứ hai, hành vi ngôn ngữ phức hợp trong hội thoại tranh luận. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các phiên chất vấn trực tiếp (kể cả những phiên chất vấn kết hợp khi thảo luận báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế - xã hội) từ kỳ họp Quốc hội khóa XI đến khóa XIV. Trong đó, luận án sử dụng 206 lập luận (gồm 83 đại lập luận) tại hai phiên họp liền nhau thuộc khóa XIII làm trường hợp nghiên cứu mẫu (case study), đồng thời mở rộng kiểm chứng qua các phiên họp đa dạng thuộc các khóa XI, XII, XIII và XIV. Nguồn tư liệu nghiên cứu được trích xuất từ cổng thông tin điện tử chính thức của Quốc hội Việt Nam và các băng ghi hình phát sóng trực tiếp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng thuật hệ thống nghiên cứu về lập luận ở nước ngoài và trong nước theo các dòng lý thuyết chính:

Ở nước ngoài, nghiên cứu lập luận truyền thống bắt nguồn từ Tu từ học của Aristotle (năm 1947) và phát triển qua logic cổ điển. Đến thế kỷ XX, Stephen Toulmin (1958) trong The Uses of Argument đã mở rộng cấu trúc tam đoạn luận thành mô hình lập luận 6 thành tố. Chaim Perelman và Lucie Olbrechts-Tyteca (1958, 1969) phát triển lý thuyết tu từ học mới, cung cấp các kỹ thuật lập luận gắn với cấu trúc thực tế. Phong trào logic phi hình thức khởi nguồn tại Bắc Mỹ từ những năm 1970 với tạp chí Informal Logic do J. Anthony Blair và Ralph H. Johnson biên soạn (1978); công trình của Blair và Johnson (1987) xác lập 3 tiêu chí đánh giá tiền đề gồm sự xác đáng, sự đầy đủ và khả năng được chấp nhận. Các tác giả Michael Scriven, James Freeman, David Hitchcock và Douglas Walton cũng đóng góp nhiều định nghĩa về bản chất và mục đích lập luận.

Về lý thuyết lập luận sai (fallacies), Charles Hamblin (1970) công bố công trình nền tảng Fallacies, mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo của John Woods và Douglas Walton trong Argument: The Logic of the Fallacies (1982) và Walton trong Informal Logic (1989), tiếp cận lập luận sai dưới góc độ đa nguyên, kết hợp cấu trúc hình thức và biện chứng. Về biện chứng hình thức, E.M. Barth và Erik C.W. Krabbe (1982) trong From axiom to dialogue đã phát triển quy trình kiểm tra luận điểm dựa trên logic đối thoại của Lorenzen. Trường phái Dụng học biện chứng (Pragma-dialectics) do Frans H. van Eemeren và Rob Grootendorst (1984, 1992) xây dựng trong Argumentation, communication, and fallacies đã tích hợp lý thuyết hành vi ngôn ngữ của John Searle và phương châm hội thoại của H.P. Grice để đề xuất 10 quy tắc của cuộc tranh luận hợp lý và mô hình 4 giai đoạn thảo luận phản biện (đối đầu, mở đầu, lập luận, kết luận). Về phương diện ngôn ngữ học, Oswald Ducrot và Jean-Claude Anscombre phát triển Chủ nghĩa lập luận triệt để (Radical Argumentativism) trong Les échelles argumentatives, nghiên cứu các chỉ dẫn lập luận (kết tử, tác tử) và lý thuyết đa thanh. Các hướng nghiên cứu khác gồm Logic tự nhiên của Jean-Blaise Grize (Neuchâtel), Dụng học tiếng Pháp của nhóm Geneva (Roulet, Moeschler), Thuyết vấn đề học của Michel Meyer (1986), các nghiên cứu tu từ học đương đại của Sonja Foss, Robert Trapp, Olivier Reboul, Josef Kopperschmidt, và hướng phân tích diễn ngôn lập luận chính trị của van Eemeren, Bart Garssen, Petukhova (2015), Naderi (2016).

Tại Việt Nam, các công trình của Đỗ Hữu Châu (1996), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998, 2005, 2013) và Nguyễn Thiện Giáp đã giới thiệu các khái niệm lập luận, logic hình thức và logic phi hình thức. Các nghiên cứu tiếp theo tập trung vào kết tử lập luận như Nguyễn Minh Lộc (1994), Kiều Tập, Nguyễn Thị Thu Trang (2016); hoặc khảo sát lập luận trong các thể loại diễn ngôn cụ thể như văn bản hành chính (Nguyễn Thị Hường, 2010), hội thoại văn học (Chu Thị Quỳnh Phương, 2016), luật tục (Nguyễn Thị Thắm, 2019), diễn ngôn pháp lý (Lê Tô Thúy Quỳnh, 2002), tiểu thuyết (Trần Thị Giang, 2005), tiểu phẩm trào phúng (Trần Trọng Nghĩa, 2016). Về ngụy biện, tác giả Nguyễn Minh (2013) đã bước đầu khảo sát mối liên hệ giữa mạch lạc và ngụy biện trên diễn ngôn báo chí theo hướng tiếp cận của Walton. Đối với bối cảnh Quốc hội, các tài liệu của Trần Ngọc Đường, Nguyễn Minh Thuyết và bài viết của Nguyễn Sỹ Dũng mới dừng lại ở mức độ tập bài giảng kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng tranh luận mang tính chất đúc kết kinh nghiệm hành chính và giao tiếp.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: tích hợp các khung lý thuyết logic học, ngữ dụng học và tu từ học để nghiên cứu một cách toàn diện lập luận tại Nghị trường Quốc hội Việt Nam. Luận án không chỉ miêu tả cấu trúc tĩnh nội tại của các lượt lời mà còn đặt lập luận trong sự vận động tương tác hội thoại tranh biện, phân tích thực trạng các lập luận chưa thuyết phục và các quy tắc giao tiếp nghị trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xác định lập luận theo hai bình diện: (1) là sản phẩm của quá trình tư duy đưa ra các lí lẽ từ tiền đề để đi đến kết luận nhằm đạt mục đích nói năng; (2) là hành vi ngôn ngữ phức hợp cấu thành từ chuỗi các hành vi bộ phận (trần thuật, khuyên, cam kết, điều khiển) đặt trong sự vận động tương tác hội thoại.

Khung phân tích của luận án kết hợp ba nền tảng lý thuyết:

  • Lý thuyết cấu trúc lập luận truyền thống kết hợp chủ nghĩa miêu tả của Oswald Ducrot: Phân tích các thành phần tiền đề (luận cứ, lí lẽ), kết luận và các chỉ dẫn lập luận (kết tử lập luận, tác tử lập luận). Tác tử lập luận làm biến đổi tiềm năng lập luận hoặc sức mạnh hành vi ở lời; kết tử lập luận liên kết các phát ngôn thành luận cứ hoặc kết luận, chia theo số lượng vị trí chi phối (kết tử 2 vị trí, kết tử 3 vị trí) và chiều hướng lập luận (đồng hướng, nghịch hướng).
  • Mô hình lập luận của Stephen Toulmin: Mô hình gồm 6 thành tố: Dữ liệu (Data - D), Tuyên bố/Kết luận (Claim - C), Biện minh/Lí lẽ (Warrant - W), Trợ giúp biện minh (Backing - B), Hạn định (Qualifier - Q) và Phản bác (Rebuttal - R).
  • Dụng học biện chứng (Pragma-dialectics) của Frans H. van Eemeren và Rob Grootendorst: Vận dụng 10 quy tắc của cuộc thảo luận phản biện để xác định tính hợp thức của tranh luận và 4 giai đoạn giải quyết bất đồng ý kiến (đối đầu, mở đầu, lập luận, kết luận).

Luận án phân loại các lập luận sai (fallacies) thành bảng hệ thống dựa trên tiêu chí vi phạm tính quan yếu, lỗi suy luận và lỗi ngôn ngữ:

Nhóm lập luận sai Tiểu loại Các dạng biểu hiện cụ thể
Lập luận sai do không quan yếu / vi phạm tính quan yếu Lập luận sai do thay đổi chủ đề / làm lạc hướng vấn đề Tấn công cá nhân, “cá trích”, đảo nghĩa vụ chứng minh, “anh cũng vậy”, “hai sai thành một đúng”.
Lập luận sai viện dẫn Viện đến uy tín, quyền lực, bạo lực, nặc danh, lòng thương, gièm pha, gây cảm giác tội lỗi, niềm tin, sự ngờ nghệch, đám đông.
Lập luận sai dựa vào lí lẽ / dẫn chứng không quan yếu Mối quan hệ nhân quả sai, lí lẽ không phù hợp ngữ cảnh, dẫn chứng không quan yếu.
Lập luận sai do quá trình suy luận sai Lập luận sai do quy nạp sai Khái quát hóa vội vã, “vòng”, nghịch đảo điều kiện, bằng chứng vụn vặt, “người rơm”.
Lập luận sai do nhầm lẫn trong tam đoạn luận Suy luận tương tự sai, thống kê sai, “đống” / “bộ râu”, kết luận ẩu.
Lập luận sai bằng cách làm lạc hướng bởi lí lẽ Lí lẽ chẻ đôi, dốc trượt, lợi dụng hậu quả.
Lập luận sai do suy luận từ mệnh đề sai hoặc mệnh đề không đầy đủ, thiếu căn cứ Nguyên nhân giả (“post hoc”, nguyên nhân sai), thiên lệch.
Lập luận sai do sử dụng ngôn ngữ Lập luận sai do thay đổi các yếu tố ngôn ngữ Thêm / bớt, tăng / giảm các yếu tố ngôn ngữ.
Lập luận sai mơ hồ về ngôn ngữ Từ ngữ mơ hồ, đề tài / chủ đề mơ hồ, ngữ điệu mơ hồ.

Quy trình phân tích lập luận nghị trường được thực hiện qua 3 bước:

  • Bước 1: Phân tích, miêu tả các từ ngữ trên bề mặt ngôn từ để tường minh hóa lập luận (theo quan điểm của Ducrot).
  • Bước 2: Tường minh hóa các yếu tố trong cấu trúc lập luận theo mô hình 6 thành tố của Toulmin.
  • Bước 3: Đánh giá lập luận trong bối cảnh cuộc hội thoại, xem lập luận là hành vi ngôn ngữ để xác định tính mục đích, tính quan yếu, tính hợp lý và hiệu quả thuyết phục (theo quan điểm dụng học biện chứng).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp định tính dựa trên nghiên cứu trường hợp (case study), kết hợp phương pháp miêu tả và phương pháp phân tích diễn ngôn. Các thủ pháp bổ trợ gồm thủ pháp so sánh - đối chiếu (nhận diện lập luận tốt và lập luận yếu/sai) và thủ pháp thống kê, phân loại (khảo sát số lượng kết tử, tác tử, phương pháp hỏi, phương pháp trả lời).

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các văn bản gỡ băng chính thức trên website Quốc hội và tư liệu truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn từ khóa XI đến khóa XIV. Ngữ liệu khảo sát định lượng mẫu gồm 206 lập luận (tương ứng 83 đại lập luận) được trích xuất từ hai phiên họp liền nhau tại Quốc hội khóa XIII.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các thành tựu nghiên cứu về lập luận từ cổ đại đến hiện đại trên thế giới và tại Việt Nam. Luận án làm rõ sự khác biệt giữa logic hình thức và logic phi hình thức, đồng thời phân tích các hướng tiếp cận của Toulmin, Perelman, van Eemeren, Grootendorst, Ducrot và Walton. Chương này thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết bao gồm cấu trúc lập luận truyền thống, cấu trúc 6 thành tố của Toulmin, các quy tắc tranh luận của dụng học biện chứng và bảng phân loại các dạng lập luận sai thường gặp.

Về cơ sở thực tiễn, chương 1 trình bày vị trí, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014. Tác giả dẫn giải quan điểm của Nguyễn Sỹ Dũng để phân biệt hoạt động chất vấn với hỏi - đáp thông thường và thẩm vấn: hỏi - đáp là để thu nhận thông tin; thẩm vấn là để làm rõ sự thật; còn chất vấn là thủ tục giám sát nhằm làm rõ trách nhiệm của các cơ quan và chức danh nhà nước. Chất vấn tại Quốc hội Việt Nam được tiến hành theo nhóm vấn đề được chọn lựa hoặc chất vấn tổng hợp vào giữa và cuối nhiệm kỳ, trong đó người điều hành giữ vai trò định hướng quy trình và cân đối thời lượng thảo luận.

Chương 2: Cấu trúc nội tại của lập luận trong các lượt lời trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

Chương 2 đi sâu vào cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa bên trong từng lượt lời chất vấn và trả lời chất vấn thông qua phân tích 83 đại lập luận (ĐLL) gồm 206 tiểu lập luận (TLL) mẫu của khóa XIII, mở rộng đối chiếu với các khóa khác.

Qua phân tích các trường hợp điển hình, luận án chỉ ra đặc điểm xây dựng luận cứ và cách sử dụng từ ngữ. Ở trường hợp chất vấn về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, người hỏi sử dụng câu hỏi lựa chọn rút gọn “Có phải đây là sự lãng quên vô tình?” chứa đựng tiền giả định cài bẫy trách nhiệm, đồng thời huy động hai loại căn cứ xác thực là văn bản pháp lý (Nghị quyết 49 năm 2010 của Quốc hội, Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI, Quyết định của Thủ tướng về Vườn quốc gia Cát Tiên) và số liệu diện tích đất rừng cụ thể. Ở trường hợp chất vấn về an toàn thực phẩm, việc sử dụng các từ ngữ tình thái nhận thức đánh giá lượng không có số liệu so sánh đối chứng (rất nhiều, nhỏ, đa số) làm giảm độ chắc chắn của tuyên bố; đồng thời việc dùng từ tình thái lịch sự xin (tôi xin chất vấn một câu hỏi nhỏ) đã chuyển hóa hành vi kiểm soát mang tính quyền lực của đại biểu thành hành vi đề đạt nguyện vọng cá nhân.

Về chỉ dẫn lập luận, luận án khảo sát kết tử lập luận (KT) theo số lượng thành phần tối thiểu được chi phối trong cấu trúc lập luận:

STT Loại kết tử Số lượt Tỉ lệ (%) Các từ ngữ biểu hiện cụ thể
1 Kết tử 2 vị trí (KT2VT) 217 74,6 thì, (ví dụ) như, để, theo, vì, qua, nên, với, khiến, do, vậy, nếu như, cho nên, tuy nhiên, do vậy, tuy vậy, chính vì thế, chính vì vậy, làm cho, theo đó là, có thể nói, muốn có… (phải), biểu hiện là...
2 Kết tử 3 vị trí (KT3VT) 71 24,3 nhưng, hơn nữa, song, mặt khác, thứ nhất, không chỉ có… mà còn / mà kể cả, ngoài… còn có…
3 Kết tử > 3 vị trí 3 1,1 Chuỗi liên kết tổ hợp nhiều phát ngôn liên tiếp.

Dữ liệu cho thấy kết tử 2 vị trí chiếm ưu thế tuyệt đối (74,6%), giữ vai trò liên kết phát ngôn ở cấp độ trong câu và trên câu để dẫn nhập luận cứ hoặc kết luận theo các mối quan hệ nhân quả, điều kiện, giải thích. Kết tử 3 vị trí đồng hướng (ngoài ra, hơn nữa, mặt khác) biểu thị quan hệ liên hợp, bổ sung thêm luận cứ nhằm củng cố cho kết luận trong các lượt lời trình bày giải pháp. Các tác tử lập luận và tác tử tình thái được sử dụng để điều chỉnh sức mạnh ở lời của phát ngôn, thể hiện mức độ khẳng định hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Chương này cũng phân loại các kiểu mô hình lập luận dựa trên mối tương quan vị trí giữa luận cứ và kết luận (mô hình diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành) và theo mức độ phức tạp của cấu trúc (lập luận đơn, đại lập luận chứa các tiểu lập luận).

Chương 3: Lập luận trong hội thoại tranh luận trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

Chương 3 khảo sát lập luận dưới tư cách là hành vi ngôn ngữ phức hợp vận động trong tương tác hội thoại trực tiếp tại nghị trường.

Luận án phân tích đặc điểm ngôn ngữ qua ba nhóm hành vi:

  • Hành vi hỏi/chất vấn: Phân loại câu hỏi theo mục đích và phương pháp hỏi. Đại biểu sử dụng các câu hỏi trực tiếp, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi tu từ và câu hỏi cài bẫy tiền giả định để truy vấn trách nhiệm người đứng đầu.
  • Hành vi trả lời chất vấn: Được đánh giá dựa trên ba tiêu chuẩn của logic phi hình thức: tính quan yếu (trả lời đúng vấn đề được hỏi), tính rõ ràng (ngôn từ minh bạch, không mơ hồ) và tính đầy đủ (giải quyết trọn vẹn nội dung chất vấn). Phân tích chỉ ra các phương pháp trả lời gồm: trả lời trực tiếp vào vấn đề, trả lời vòng vo né tránh, viện dẫn lý do khách quan, hoặc chuyển dịch trách nhiệm.
  • Hành vi điều hành của chủ tọa: Người điều hành sử dụng các hành vi hướng tác thể để phân bổ thời gian, nhắc nhở đại biểu và bộ trưởng đi vào trọng tâm, cắt các phát ngôn trùng lặp hoặc vi phạm nội quy, bảo đảm tiến trình tranh luận thực chất.

Chương 3 cũng mô hình hóa các chuỗi tương tác tranh luận qua các giai đoạn đối chất, kiểm chứng việc tuân thủ 10 quy tắc thảo luận phản biện của lý thuyết Dụng học biện chứng. Tác giả tổng hợp các dạng lập luận - tranh luận chưa thuyết phục xuất hiện tại nghị trường, chỉ ra các lỗi ngụy biện phổ biến như: ngụy biện tấn công cá nhân, ngụy biện cá trích (đánh lạc hướng vấn đề sang thành tích khác), ngụy biện dốc trượt, ngụy biện viện dẫn uy tín, quy nạp vội vã từ cứ liệu cục bộ và né tránh nghĩa vụ chứng minh. Cuối chương, luận án đưa ra các nhận xét thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận cho từng nhóm chủ thể.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ tính khả dụng của các lý thuyết lập luận hiện đại trên thế giới khi phân tích diễn ngôn chính trị tiếng Việt. Nghiên cứu vận dụng lý thuyết mô hình 6 thành tố của Stephen Toulmin, lý thuyết lập luận sai của Charles Hamblin và Douglas Walton, lý thuyết phân tích diễn ngôn và đa thanh của Oswald Ducrot, cùng lý thuyết Dụng học biện chứng của Frans H. van Eemeren và Rob Grootendorst vào việc đánh giá ngữ liệu chất vấn thực tế. Luận án xác lập cách tiếp cận nghiên cứu lập luận đồng thời là cấu trúc logic nội tại và là hành vi ngôn ngữ phức hợp đặt trong bối cảnh tương tác hội thoại tranh biện tại Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp hệ thống tiêu chí và phương pháp phân tích, đánh giá, xây dựng và phản biện lập luận trong bối cảnh các phiên chất vấn tại diễn đàn Quốc hội. Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng thực tế đối với đại biểu Quốc hội trong việc cấu trúc câu hỏi chất vấn sắc bén, tránh các lỗi diễn đạt làm suy giảm hiệu lực giám sát; hỗ trợ các bộ trưởng, trưởng ngành nâng cao chất lượng trả lời bảo đảm tính quan yếu, đầy đủ và minh bạch; giúp chủ tọa nâng cao hiệu quả điều hành tranh luận. Các sơ đồ phân tích lí lẽ, lược đồ nhận diện lập luận sai và sơ đồ phản biện trong luận án có thể được chuyển giao làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo về ngữ dụng học, logic học, phân tích diễn ngôn và kỹ năng tư duy phản biện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định quy mô khảo sát chuyên sâu trường hợp mẫu (case study) được giới hạn ở 206 lập luận (tương ứng 83 đại lập luận) tại hai phiên họp liền nhau thuộc Quốc hội khóa XIII; các nhận định mở rộng dù có đối chiếu qua các khóa XI, XII và XIV nhưng chưa thể bao quát toàn bộ mọi phiên chất vấn của các nhiệm kỳ do giới hạn về dung lượng và nguồn tư liệu gỡ băng.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, luận án gợi mở việc mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ các kỳ họp của các khóa Quốc hội tiếp theo nhằm khái quát hóa toàn diện hơn các xu hướng lập luận. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất khả năng ứng dụng kỹ thuật khai phá lập luận (argumentation mining) và các mô hình máy tính xử lý ngôn ngữ tự nhiên để tự động hóa quy trình phân tích lược đồ tranh luận nghị trường, tiếp nối các nghiên cứu quốc tế đã đề cập.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Các đại biểu Quốc hội, cán bộ các cơ quan dân cử và chuyên viên văn phòng Quốc hội: Tham khảo trực tiếp chương 2 và chương 3 để nắm vững kỹ thuật xây dựng lập luận chất vấn, nhận diện các bẫy tiền giả định, các dạng ngụy biện né tránh trách nhiệm, cùng phương pháp trả lời bảo đảm tính quan yếu và kỹ năng điều hành tranh luận nghị trường.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngữ dụng học, Phân tích diễn ngôn: Tham khảo chương 1 về khung lý thuyết tích hợp (Toulmin, Ducrot, van Eemeren) và phương pháp phân tích diễn ngôn hội thoại ứng dụng trên ngữ liệu tiếng Việt thực tế.
  • Người nghiên cứu và giảng dạy môn Logic học và Tư duy phản biện: Khai thác bảng phân loại các lập luận sai cùng hệ thống ngữ liệu thực tế sinh động tại nghị trường để minh họa cho các quy tắc suy luận, lỗi ngụy biện và phương pháp phản biện logic.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động chất vấn trên diễn đàn Quốc hội được phân biệt với hỏi - đáp và thẩm vấn như thế nào?
Dựa trên quan điểm của Nguyễn Sỹ Dũng được luận án trích dẫn, ba hoạt động này khác nhau căn bản về tính chất, mục đích và thủ tục: hỏi - đáp có mục đích chính là thu nhận thông tin; thẩm vấn là thủ tục nhằm làm rõ sự thật; trong khi chất vấn là hình thức giám sát tối cao của Quốc hội nhằm làm rõ trách nhiệm của các cơ quan và người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước.

Loại kết tử lập luận nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong các lượt lời chất vấn và có vai trò gì?
Theo kết quả thống kê tại Bảng 2 của luận án, kết tử 2 vị trí (KT2VT) chiếm tỷ lệ cao nhất với 74,6% (217 lượt trên tổng số khảo sát). Nhóm kết tử này giữ vai trò dẫn nhập luận cứ hoặc kết luận, tạo tính liên kết mạch lạc giữa các phát ngôn trong câu và liên kết trên câu theo các mối quan hệ nguyên nhân - kết quả, điều kiện - kết quả, giải thích.

Mô hình cấu trúc lập luận 6 thành tố của Stephen Toulmin gồm những thành phần nào?
Mô hình Toulmin được luận án vận dụng gồm 6 thành tố: Dữ liệu (Data - D), Tuyên bố/Kết luận (Claim - C), Biện minh/Lí lẽ (Warrant - W), Trợ giúp biện minh (Backing - B), Hạn định (Qualifier - Q) và Phản bác (Rebuttal - R). Trong đó, các yếu tố D, W, C tương ứng với Luận cứ, Lí lẽ và Kết luận của mô hình lập luận truyền thống.

Hệ thống phân loại lập luận sai trong luận án gồm những nhóm chính nào?
Luận án phân loại lập luận sai thành 3 nhóm chính: (1) Lập luận sai do không quan yếu / vi phạm tính quan yếu (tiểu loại: thay đổi chủ đề, viện dẫn không hợp lý, lí lẽ/dẫn chứng không quan yếu); (2) Lập luận sai do quá trình suy luận sai (tiểu loại: quy nạp sai, nhầm lẫn tam đoạn luận, làm lạc hướng bởi lí lẽ, suy luận từ mệnh đề sai/thiếu căn cứ); (3) Lập luận sai do sử dụng ngôn ngữ (tiểu loại: thay đổi yếu tố ngôn ngữ, ngôn từ mơ hồ).

Quy trình phân tích tích hợp lập luận nghị trường của luận án gồm những bước nào?
Quy trình được thực hiện theo 3 bước: Bước 1 là phân tích, miêu tả ngôn từ trên bề mặt để tách bạch các thành phần lập luận theo quan điểm miêu tả của Oswald Ducrot; Bước 2 là tường minh hóa các yếu tố cấu trúc theo mô hình 6 thành tố của Stephen Toulmin; Bước 3 là đánh giá lập luận trong ngữ cảnh hội thoại như các hành vi ngôn ngữ theo quan điểm Dụng học biện chứng.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Diệu Thương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lập luận và tranh luận trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam qua các phiên chất vấn dựa trên cách tiếp cận liên ngành giữa logic học, ngữ dụng học và tu từ học. Tác giả đã kết hợp mô hình cấu trúc nội tại của Stephen Toulmin và Oswald Ducrot với lý thuyết Dụng học biện chứng của Frans H. van Eemeren để khảo sát toàn diện cả hai bình diện: cấu trúc hình thức trong từng lượt lời và hành vi ngôn ngữ trong tương tác hội thoại. Công trình đã làm rõ đặc điểm sử dụng kết tử, tác tử, phương pháp hỏi - đáp, đồng thời nhận diện và phân loại có hệ thống các dạng lập luận chưa thuyết phục tại nghị trường. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận cho ngành ngữ dụng học tiếng Việt và cung cấp phương pháp luận thực tiễn phục vụ mục tiêu đổi mới hoạt động của Quốc hội từ tham luận sang tranh luận.