Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận Chương 2: Làng Mậu Hòa và nghề chế biến nông sản Chương 3: Biểu hiện văn hóa ứng xử trong nghề chế biến nông sản ở làng Mậu Hòa Chương 4: Những vấn đề đặt ra từ nghiên cứu văn hóa ứng xử của người làm nghề chế biến nông sản ở Mậu Hòa. luan an 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình viết về văn hóa ứng xử 1.
Một số nghiên cứu của các học giả nước ngoài Từ đầu thế kỷ XX, một số học giả trên thế giới đã xây dựng quan điểm về hành vi ứng xử dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Watson đề xuất học thuyết hành vi ứng xử với quan niệm, hành vi của con người đều có mục đích, phản ánh nội dung bên trong của tâm lý biểu hiện qua việc ứng xử với các mối quan hệ đan chéo. Maslow đưa ra mô hình tháp nhu cầu của con người. Theo đó, nhu cầu của con người được xếp thứ bậc từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp; để đáp ứng nhu cầu, chủ thể đưa ra hành vi, gồm những hành vi không quan sát được (hành vi kín) và hành vi quan sát được (hành vi mở), tồn tại song hành [111, tr.
Sau này, Lake, Dale G trong Mesuring human behavior: Tools for the assessment of social functioning [138] và tập thể các nhà nghiên cứu gồm Curtis W. Coffey với Management and organizational behavior (1997) [137], cùng bàn về cách thức điều tra hành vi ứng xử, cách quản lý mối quan hệ trong giao tiếp. Lake, Dale chỉ ra những biểu hiện cảm xúc của con người trong xã hội, gồm sự hứng thú, lòng vị tha, niềm tin, quan niệm đạo đức, quan hệ xã hội, các khía cạnh tâm lý, tình cảm gia đình, tính ích kỷ trong mỗi cá nhân. Nhóm tác giả thứ hai tập trung phân tích cách thức xây dựng mối quan hệ giữa các nhóm xã hội; đồng thời chỉ ra những khó khăn trong vấn đề quản lí, giải quyết xung đột giữa các cá nhân trong công việc.
Ấn phẩm của Ed. Duffy xuất bản định kì 2001, 2002 với nhan đề Personal growth and behavior [144] gồm các bài viết đề cập đến sự phát triển nhân cách, phong cách ứng xử, tình cảm, lối sống, nhận thức bản thân, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành ứng xử như động cơ, môi trường, tâm lí. luan an 11 Phân tích hành vi ứng xử trong hoạt động kinh doanh, William W. Tate (1954) [157] nhấn mạnh đến các mối quan hệ con người trong sản xuất công nghiệp, như quan hệ cá nhân và tổ chức, quan hệ giữa người lao động với nhau, quan hệ của người quản lý với người làm thuê, được trình bày cụ thể trong Human behavior in industry.
Mowen trong Consumer Behavior (1990) [142], ứng xử với khách hàng được nghiên cứu từ những năm 1960, trong đó quá trình hình thành cách ứng xử, môi trường là những yếu tố tác động đến niềm tin và thị hiếu của khách hàng. Solomon Consumer behavior: Buying, having, and being (2004) [148], biểu lộ hành vi ứng xử của khách hàng phụ thuộc vào cá tính, vị trí làm việc, môi trường văn hóa và niềm tin tôn giáo ở mỗi cá nhân. Một số nghiên cứu của các tác giả Việt Nam Ở Việt Nam, cụm từ “văn hóa ứng xử” từ lâu được sử dụng chủ yếu trong ngôn ngữ hàng ngày, gần đây được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Trần Ngọc Thêm phân tích hai thành tố trong văn hóa ứng xử của con người là ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội, trong mỗi chiều kích ấy, con người bộc lộ hai cách xử thế là tận dụng và ứng phó.
Nguyễn Viết Chức đưa ra quan niệm về văn hóa ứng xử bao gồm các cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác [15, tr. Công trình Văn hóa Việt Nam những hướng tiếp cận liên ngành của Trần Quốc Vượng đã đưa ra sáu hướng tiếp cận văn hóa gồm địa - văn hóa, những vấn đề lý luận về văn hóa Việt Nam (diễn trình văn hóa, văn hóa dân gian, nghệ thuật, ứng xử, danh nhân), văn hóa ánh sáng, văn hóa ứng xử cổ truyền Bắc Bộ, văn hóa tố tụng hình sự, văn hóa trong môi trường trò chơi trực tuyến [132]. Trần Thúy Anh trong tác phẩm Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ đã chỉ ra những biểu hiện ứng xử của người Việt với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội qua hệ thống ca dao, luan an 12 tục ngữ. Từ đó, tác giả đưa ra mô hình truyền thống và mô hình mới về ứng xử với tự nhiên và xã hội của người Việt [2].
Tác giả Lê Văn Quán trong Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt khẳng định bốn truyền thống ứng xử; ba yếu tố tạo nên thế ứng xử của người Việt; từ đó đưa ra các bình diện và phương châm ứng xử của người Việt trong truyền thống [91]. Nguyễn Thanh Tuấn cho rằng, văn hóa ứng xử được biểu hiện qua hai hình thức trực tiếp và gián tiếp. Ở hình thức trực tiếp, văn hóa ứng xử được bộc lộ trong môi trường sống (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường tâm linh, môi trường nhóm xã hội, môi trường bản thể…), thể hiện qua các mối quan hệ chồng chéo của con người. Hình thức gián tiếp được phản ánh trong các công trình khoa học trên các lĩnh vực Triết học, Tâm lý học, Văn học, Xã hội học, Văn hóa dân gian, Văn hóa nghệ thuật… Hình thức gián tiếp cung cấp những luận điểm, kết luận, bài học kinh nghiệm, những tinh hoa và sự kế thừa có chọn lọc tinh hoa ấy trong ứng xử của nhiều thế hệ, tạo thành truyền thống ứng xử của người Việt [119, tr.
Các công trình viết về văn hóa ứng xử của người Việt 1. Các công trình viết về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên Đến nay đã có một số tác phẩm viết về ứng xử của con người với môi trường tự nhiên. Trần Ngọc Thêm cho rằng, con người Việt Nam từ lâu đã biết tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có để cấy trồng, chăn nuôi mang lại nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Để ứng phó với thời tiết khắc nghiệt, con người sớm biết lựa chọn trang phục, chất liệu may mặc để tránh nóng, chống rét.
Con người đã biết cách ứng phó với khoảng cách qua việc sáng tạo ra các phương tiện phù hợp khi vận chuyển trên đường bộ, đường thủy. Cách ứng phó của con người với từng địa hình sông nước, đồng bằng, miền núi là việc thiết kế nhiều loại hình nhà ở như nhà sàn, nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất với lối kiến trúc linh hoạt vừa tiện lợi trong sinh hoạt vừa chống thú dữ hay đối phó với các hiện tượng tự nhiên [109]. luan an 13 Nhóm tác giả Chu Khắc Thuật, Nguyễn Văn Thủ (chủ biên) đưa ra nhận định về biểu hiện và đặc điểm của lối sống truyền thống của người Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên là sự hòa đồng với thiên nhiên, nương theo thiên nhiên để ngăn ngừa, hạn chế sự phá hoại có ý thức của một số người với tự nhiên, nhiều địa phương đã ghi rõ hình thức xử phạt trong hương ước đối với người vi phạm [117]. Có cùng cách tiếp cận của Trần Ngọc Thêm, tác giả Nguyễn Viết Chức trong công trình Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên đã khẳng định, thái độ sống hòa hợp, nương nhờ và thuận theo thiên nhiên là đặc trưng cơ bản trong lối ứng xử của những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam [15, tr.
Tác giả kết luận, môi trường thiên nhiên là cái gốc quy định lối sống và văn hóa ứng xử của con người không chỉ đối với tự nhiên mà cả đối với xã hội [15, tr. Dựa vào nguồn ca dao, tục ngữ, Trần Thúy Anh chỉ ra thế ứng xử truyền thống của người Việt ở Bắc Bộ với tự nhiên là vừa khai thác nguồn lợi vừa ứng phó với tác hại của môi trường tự nhiên, nhằm đảm bảo cho nhu cầu sống và làm việc của con người [2]. Trong công trình Con người, môi trường và văn hóa, Nguyễn Xuân Kính đã chỉ ra cách ứng xử trân trọng, “thiêng hóa” của người Việt đối với nước; con người nhận thức rõ vai trò, tác động tích cực và tiêu cực của nước trong cuộc sống cũng như trong lao động sản xuất từ đó đưa ra những quy tắc bảo vệ nguồn nước sinh hoạt [63]. Ứng xử với môi trường xã hội Ứng xử trong gia đình, dòng họ Viết về ứng xử trong quan hệ huyết thống ở cấp độ gia đình, các tác giả Nguyễn Văn Lê [64], Lê Thị Thanh Hương [58], Vũ Thị Phương [88] cùng quan niệm rằng, lối ứng xử giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, ông bà với con cháu của người Việt chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo.
Người chồng, người cha, người ông đóng vai trò trụ cột về kinh tế nên họ có quyền quyết định các công luan an 14 việc quan trọng trong gia đình, luôn được xã hội đánh giá cao về vai trò và nắm các vị trí then chốt trong các cơ quan. Tác giả Lê Thị Thanh Hương trong công trình Ứng xử của người dân vùng đồng bằng Sông Hồng trong gia đình cho rằng, người phụ nữ biết ứng xử là người biết chấp nhận, chịu thiệt thòi trong gia đình. Tuy nhiên, vợ chồng người Việt vốn sống vì cái nghĩa, vì gia đình, dòng họ của nhau. Trên thực tế, người phụ nữ Việt Nam có một vị trí cao hơn người phụ nữ Trung Hoa, được chồng yêu mến, trân trọng, được con cái yêu quý, kính nể, chiếm một chỗ đứng nhất định trong gia đình [58, tr.
Tác giả cũng chỉ ra rằng, trong gia đình bố mẹ không chỉ tạo dựng cho con cái cơ sở vật chất sau này, mà còn phải sống tốt để làm gương cho con, đạo đức là “cái gốc tạo phúc ấm cho con cháu”. Con cái phải có hiếu với bố mẹ, không chỉ là chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ, mà còn phải làm rạng danh cho bố mẹ, dòng họ.