Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Lý Luận Cho Giảng Viên Các Trường Chính Trị Tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long

Chuyên khảo phân tích Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho giảng viên các trường chính trị tỉnh khu vực đồng bằng sông, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

CNDVBC&CNDV LS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

177
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Lý Luận Giảng Viên

Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của tư duy và trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nâng cao năng lực tư duy trở thành yếu tố then chốt để một quốc gia phát triển đột phá và sánh vai với các nước tiên tiến. Tư duy lý luận (TDLL), đặc biệt là tư duy triết học, đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước một cách toàn diện. Đảng ta đặc biệt quan tâm đến việc khai thác tiềm năng trí tuệ và năng lực tư duy của con người Việt Nam, coi đó là động lực phát triển bền vững. Đại hội XIII của Đảng xác định đổi mới tư duy và hành động là quan điểm phát triển hàng đầu, gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế. Năng lực tư duy lý luận có vai trò quan trọng đối với mọi lĩnh vực, đặc biệt là công tác giảng dạy lý luận chính trị. Nâng cao năng lực và trình độ TDLL cho đội ngũ cán bộ lý luận, giảng viên các trường chính trị (TCT) cấp tỉnh, có tầm quan trọng đặc biệt.

1.1. Vai trò của tư duy lý luận trong phát triển đất nước

Tư duy lý luận là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, trừu tượng và khái quát, sử dụng các khái niệm, phạm trù và quy luật. Đây là hình thức cao nhất của tư duy, giúp nắm bắt các mối liên hệ bên trong và bản chất của sự vật, từ đó tìm ra các quy luật vận động nội tại. Theo tác giả Trần Sỹ Phán, tư duy lý luận là khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tư duy cho đội ngũ cán bộ, giảng viên.

1.2. Tầm quan trọng của năng lực tư duy lý luận đối với giảng viên

Năng lực tư duy lý luận ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị. Nó cũng tác động đến công tác chính trị, tư tưởng trong hệ thống nhà trường. Do đó, việc nâng cao năng lực tư duy cho đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh là vô cùng quan trọng. Điều này giúp họ đóng góp vào quá trình đổi mới tư duy và nâng cao năng lực trí tuệ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

II. Thách Thức Nâng Cao Tư Duy Lý Luận Tại ĐBSCL Hiện Nay

Trong tình hình hiện nay, cán bộ, đảng viên cần có năng lực trí tuệ thực sự, bao gồm kiến thức chuyên môn và tri thức lý luận khoa học. Thiếu kiến thức chuyên môn, cán bộ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Thiếu tri thức lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị, sẽ tụt hậu so với khu vực và thế giới. Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đòi hỏi cán bộ phải chủ động tiếp cận và làm chủ tri thức, sáng tạo trong nhận thức và hành động. Điều này phụ thuộc vào việc đào tạo của các trường chính trị tỉnh. Yêu cầu nâng cao năng lực tư duy lý luận cho giảng viên các TCT tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Năng lực và trình độ trí tuệ, năng lực tư duy của đội ngũ này chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng.

2.1. Thực trạng năng lực tư duy lý luận của giảng viên

Thực tế cho thấy, năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh khu vực ĐBSCL còn nhiều hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và quá trình đổi mới tư duy của cán bộ, đảng viên. Cần đánh giá đúng những điểm mạnh, điểm yếu về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên để xác định phương hướng và giải pháp phù hợp.

2.2. Ảnh hưởng đến quá trình đổi mới và phát triển vùng ĐBSCL

Thực trạng năng lực tư duy lý luận yếu kém có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình đổi mới tư duy, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và sự phát triển nhanh, bền vững của khu vực ĐBSCL. Đây là một vùng kinh tế trọng điểm, phát triển năng động ở phía Nam. Do đó, việc nâng cao năng lực tư duy cho đội ngũ giảng viên là vô cùng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của vùng.

2.3. Yêu cầu cấp thiết nâng cao năng lực tư duy lý luận

Việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa cơ bản vừa cấp bách. Nó không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị mà còn góp phần đảm bảo quá trình đổi mới tư duy của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Lý Luận Hiệu Quả

Luận án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề chung về năng lực tư duy lý luận của giảng viên TCT tỉnh, khái quát thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL. Từ đó, đề xuất một số yêu cầu, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL trong thời gian tới. Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau: Phân tích làm sáng rõ những vấn đề chung về năng lực tư duy lý luận của giảng viên các TCT tỉnh. Phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân của thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL. Đề xuất, luận giải cơ sở khoa học về yêu cầu, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL.

3.1. Phân tích các vấn đề chung về năng lực tư duy lý luận

Luận án đi sâu vào phân tích các khái niệm, cấu trúc và tiêu chí đánh giá năng lực tư duy lý luận của giảng viên các trường chính trị tỉnh. Đồng thời, làm rõ những biểu hiện đặc thù trong năng lực tư duy lý luận của giảng viên và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tư duy của đội ngũ này.

3.2. Đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận tại ĐBSCL

Luận án tập trung đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh khu vực ĐBSCL hiện nay. Việc đánh giá này dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học và khảo sát thực tế để đưa ra những nhận định khách quan và chính xác.

3.3. Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng, luận án đề xuất các giải pháp cụ thể và khả thi để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh khu vực ĐBSCL. Các giải pháp này được luận giải dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Bồi Dưỡng Tư Duy Lý Luận Giảng Viên

Luận án nghiên cứu về năng lực tư duy lý luận của giảng viên các TCT khu vực ĐBSCL. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đội ngũ giảng viên cơ hữu. Thực trạng năng lực tư duy lý luận của giảng viên các TCT tỉnh vùng ĐBSCL được nghiên cứu từ năm 2015 đến 2021 (Tập trung khảo sát trên địa 12 tỉnh của ĐBSCL). Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa vận dụng đến năm 2030. Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng (DVBC) và chủ nghĩa duy vật lịch sử (DVLS), nhất là những nguyên lý của lý luận nhận thức và logic học mác xít. Luận án cũng dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, sử dụng kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án.

4.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu cụ thể

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào đội ngũ giảng viên cơ hữu của các trường chính trị tỉnh khu vực ĐBSCL. Thời gian nghiên cứu được giới hạn từ năm 2015 đến 2021, tập trung khảo sát trên 12 tỉnh của ĐBSCL. Điều này giúp đảm bảo tính cụ thể và khả thi của các kết quả nghiên cứu.

4.2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận. Đồng thời, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, kết hợp lịch sử và logic, điều tra bằng bảng hỏi, thống kê và so sánh.

4.3. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Luận án sử dụng cả thông tin thứ cấp (từ sách, báo, tài liệu khoa học) và thông tin sơ cấp (thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu). Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bằng bảng hỏi với 230 đối tượng là giảng viên, cán bộ quản lý và học viên tại các trường chính trị tỉnh khu vực ĐBSCL. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Đánh Giá Năng Lực Tư Duy Lý Luận

Luận án đóng góp vào việc làm sáng tỏ hơn khái niệm, cấu trúc năng lực tư duy lý luận, tiêu chí đánh giá năng lực tư duy lý luận của giảng viên các TCT. Làm rõ những biểu hiện mang tính đặc thù trong năng lực tư duy lý luận của giảng viên các TCT tỉnh và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tư duy của đội ngũ này. Góp phần làm rõ thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL hiện nay. Đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của các yêu cầu, phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các TCT tỉnh khu vực ĐBSCL trong thời gian tới.

5.1. Đóng góp về mặt lý luận

Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận về tư duy lý luận, cấu trúc năng lực tư duy lý luận, các yếu tố tác động đến năng lực tư duy lý luận dưới góc độ Triết học. Điều này cung cấp một khung lý thuyết vững chắc cho việc nghiên cứu và phát triển năng lực tư duy.

5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy nâng cao tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở các TCT tỉnh vùng ĐBSCL nói riêng và các trường chính trị, cao đẳng, đại học cả nước nói chung. Điều này giúp nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.

VI. Định Hướng Tương Lai Phát Triển Tư Duy Lý Luận Giảng Viên

Theo đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng thời kỳ đổi mới đã nhấn mạnh trong tác phẩm “Đổi mới để tiến lên”cho rằng : "Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận". Bởi, tư duy lý luận là tư duy ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ là khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan, từ đó định hướng, hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người và sáng tạo tri thức mới. Tác giả Nguyễn Ngọc Long, “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy”. Tác giả đã phân tích bản chất và những yếu tố cấu thành năng lực tư duy lý luận; sự cần thiết phải phát triển năng lực tư duy lý luận trong thời kỳ đổi mới đất nước. Từ đó, tác giả khẳng định rằng, quá trình đổi mới tư duy phải gắn chặt với việc đổi mới và nâng cao năng lực tư duy lý luận; phải khắc phục được những sai lầm trong tư duy lý luận của chúng ta.

6.1. Vai trò của đổi mới tư duy lý luận

Đổi mới tư duy lý luận là yếu tố then chốt trong quá trình đổi mới đất nước. Nó giúp chúng ta nhìn nhận và giải quyết các vấn đề một cách sáng tạo và hiệu quả hơn. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới tư duy lý luận trong giai đoạn đổi mới.

6.2. Phát triển năng lực tư duy lý luận trong bối cảnh mới

Tác giả Nguyễn Ngọc Long nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển năng lực tư duy lý luận trong thời kỳ đổi mới. Quá trình đổi mới tư duy phải gắn liền với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận và khắc phục những sai lầm trong tư duy lý luận.

06/06/2025
Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho giảng viên các trường chính trị tỉnh khu vực đồng bằng sông cửu long trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến các vấn đề lý luận về năng lực tư duy lý luận của giảng viên trường chính trị tỉnh Tư duy, tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận là những vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu các nước và nước ta trong thời gian qua. Nhiều cuốn sách, bài báo, tham luận tại các cuộc hội thảo, v. đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau.

Các công trình được đề cập trong các công trình viết về lịch sử triết học, phép biện chứng, lôgíc học, lý luận nhận thức như: Tác giả Đ.Gorki trong công trình “Lôgíc học” cho rằng, chỉ có thể tư duy đúng đắn khi vận dụng những tư tưởng có nội dung chân thực và đã được chứng minh phù hợp với các quy luật của lôgíc học [20].Lencôv trong công trình “Lôgíc học biện chứng” (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003) đã chỉ ra hệ thống các nguyên tắc của quá trình nhận thức, tầm quan trọng của nguyên tắc lịch sử trong mối tương quan với nguyên tắc lôgíc, sự đồng nhất giữa lôgíc học, phép biện chứng và lý luận nhận thức, mối quan hệ giữa cái cụ thể, cái lôgíc và cái lịch sử trong tư duy [34]. Trong các công trình như: “Nguyên lý lôgíc biện chứng” của M.Rôdentan, tác giả đã đi từ vai trò của lôgíc biện chứng và khẳng định rằng tư duy là công cụ mạnh mẽ để con người nhận thức và cải tạo thế giới; tác giả cũng chỉ ra những quy luật vận động của tư duy [96]. Tác giả Trần Sỹ Phán Trong bài: " Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta" [79]. Tác giả cho rằng TDLL là quá trình phản ánh hiện thực khách quan gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật.

Đây là hình thức cao nhất của tư duy. Quá trình tư duy là quá trình chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khái niệm để nắm bắt các mối liên hệ bên trong, bản chất, từ đó tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn ở khách thể trong quá trình nhận thức. 8 Tác giả Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải trong công trình “Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ “cho rằng, bất kỳ người nào sống trong xã hội, có một bộ óc phát triển bình thường, nắm được những yêu cầu nhất định về ngôn ngữ, lôgíc thì đều có thể trở thành một chủ thể của tư duy. Những ai có NLTD tốt thường sẽ trở thành những người thuộc tầng lớp trí thức xã hội.

Những người chuyên lao động trí óc, làm việc chủ yếu bằng tư duy thường là những người có NLTD tốt. Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, tư duy khoa học hiện đại phát triển mạnh mẽ. Các ông cho rằng, sự phát triển ấy sẽ dẫn đến các lý thuyết khoa học mới, tổng quát hơn. Tư duy khoa học hiện đại sẽ chuyển hóa về chất thành tư duy khoa học của một nền văn minh mới, cao hơn trong thế kỷ XXI.

Nhờ đó, loài người sẽ giải quyết được các vấn đề toàn cầu [78]. Tác giả Vũ Văn Viên trong bài “Rèn luyện năng lực tư duy khoa học cho học sinh, sinh viên”[135] đã phân tích và làm sáng tỏ nét đặc thù và sự cần thiết phải phát triển tư duy khoa học cho học sinh, sinh viên ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tác đã đã chỉ ra những hạn chế của tư duy khoa học ở học sinh, sinh viên và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao NLTD khoa học cho học sinh, sinh viên hiện nay. Tác giả cho rằng, cần tăng cường rèn luyện tư duy chính xác cho học sinh, sinh viên thông qua dạy lôgíc hình thức hay là trang bị các nguyên tắc, phương pháp luận biện chứng duy vật cho các em.

Tác giả Nguyễn Mạnh Cương phân tích trong bài viết “Về bản chất tư duy” bàn về nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, lịch sử hình thành và phát triển của tư duy biện chứng duy vật. Tác giả khẳng định rằng, tư duy biện chứng mácxít là hình thức tư duy phát triển cao nhất trong lịch sử; tư duy biện chứng phụ thuộc vào hệ thống tri thức và hoạt động thực tiễn của mỗi chủ thể, thiếu vốn tri thức chủ thể nhận thức sẽ không có tư duy sáng tạo. Tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tư duy chính xác và tư duy biện chứng duy vật trong quá trình nhận thức [9]. Bên cạnh đó, có các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đổi mới tư duy ở nước ta hiện nay.

Các nhà nghiên cứu đã đặt ra và giải quyết vấn đề tình trạng lạc hậu của TDLL ở nước ta trước thời kỳ đổi mới, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạc hậu của TDLL và cách thức khắc phục tình trạng đó như: 9 Theo đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng thời kỳ đổi mới đã nhấn mạnh trong tác phẩm “Đổi mới để tiến lên”cho rằng : "Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận" [47, tr. Bởi, tư duy lý luận là tư duy ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ là khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan, từ đó định hướng, hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người và sáng tạo tri thức mới. Tác giả Nguyễn Ngọc Long, “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” [50]. Tác giả đã phân tích bản chất và những yếu tố cấu thành năng lực TDLL; sự cần thiết phải phát triển năng lực TDLL trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Từ đó, tác giả khẳng định rằng, quá trình đổi mới tư duy phải gắn chặt với việc đổi mới và nâng cao năng lực TDLL; phải khắc phục được những sai lầm trong TDLL của chúng ta. Tác giả Trần Thành (chủ biên) trong cuốn “Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn” cho rằng: Tư duy lý luận (được hiểu theo là cái "phủ định biện chứng" của tư duy kinh nghiệm) là tư duy dựa trên tri thức lý luận và phương pháp nhận thức khoa học [114]. Về năng lực tư duy, trước hết các tác giả xuất phát từ khái niệm “năng lực” nói chung. Cách xác định trên, tuy còn nhiều vấn đề cần trao đổi, song theo chúng tôi, phần nào đã lột tả được thực chất khái niệm năng lực.

Các tác giả nhất trí với quan niệm của Hồ Chí Minh rằng, “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có” [61, tr. Cũng như bất kỳ một loại năng lực nào khác, năng lực TDLL cũng được hình thành và phát triển nhờ các yếu tố bẩm sinh và rèn luyện qua học tập, hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, để làm rõ năng lực TDLL là gì, chúng ta cần tìm hiểu vấn đề một cách cụ thể hơn. 10 Tác giả Nguyễn Thị Bạch Vân với bài báo khoa học "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho sinh viên thông qua giảng dạy triết học"[134] cho rằng: Tư duy lý luận được hình thành trên cơ sở của tư duy kinh nghiệm; đó là sự phản ánh được các mối liên hệ trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó.

Tư duy lý luận có thể phân thành nhiều loại khác nhau. Mỗi môn khoa học là một hệ thống tri thức lý luận (khác với tri thức kinh nghiệm) về bản chất bởi tư duy lý luận dựa trên cơ sở tri thức kinh nghiệm thực tiễn điển hình cùng với sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà lý luận. Từ điển triết học do M.Rôdentan chủ biên viết rằng, “hoạt động tâm lý đặc biệt của con người tức là năng lực tư duy” [97, tr. Cách xác định như vậy tuy còn rất chung, song nó giúp cho việc tiếp tục cụ thể hoá, chi tiết hơn.

Tác giả Hồ Bá Thâm trong bài viết “Bàn về năng lực tư duy” cho rằng, “năng lực tư duy là khả năng biến tri thức thành phương pháp và sử dụng thành thạo chúng để tiếp tục nhận thức, tìm ra bản chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật và vận dụng đúng đắn các quy luật đó trong cuộc sống” [118, tr. Từ quan niệm chung như vậy, tác giả nhận định cụ thể hơn: “Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng, trừu tượng hóa, khái quát hóa và xử lý tri thức trong quá trình phản ánh, tái tạo, phát triển và vận dụng chúng vào những tình huống thực tiễn nhất định” [118, tr. Có thể nói, cách định nghĩa như trên là quá hẹp, bởi năng lực tư duy nếu chỉ là khả năng biến trí thức thành phương pháp thì chưa nói lên đầy đủ chức năng của hoạt động tư duy. Tác giả Hồ Bá Thâm, cũng đã phân tích và cho rằng, có 3 yếu tố cơ bản cấu thành năng lực tư duy là: Một là, năng lực tái hiện và ghi nhớ những hình ảnh do cảm tính đem lại.

Hai là, năng lực liên tưởng để tìm bản chất của vấn đề đi từ chưa biết đến biết, vạch ra cái mới. Ba là, năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp và tưởng tượng. Từ đó, tác giả cũng đưa ra ra định nghĩa về năng lực tư duy và phân tích những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới năng lực tư duy như: trình độ, yếu tố bẩm sinh, phương thức và môi trường của tồn tại 11 xã hội, hoạt động giáo dục và đào tạo tự giác, hoạt động thực tiễn. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng năng lực tư duy không phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh.

Để phát triển năng lực tư duy cần khai thác và phát huy hiệu quả vai trò của các yếu tố ảnh hưởng tới nó, cần thấy được tầm quan trọng của từng yếu tố để có cơ chế khai thác phù hợp mới phát huy được tác dụng [118]. Tác giả Tô Duy Hợp trong bài viết “Phương pháp tư duy - vấn đề kế thừa và đổi mới” đã chỉ ra mối quan hệ và sự khác biệt giữa các khái niệm phương pháp, phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức, phương pháp hành động, phân biệt các khái niệm phương pháp TDLL, phương pháp tư duy khoa học và phương pháp tư duy biện chứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Lý Luận Cho Giảng Viên Các Trường Chính Trị Tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long" tập trung vào việc phát triển khả năng tư duy lý luận cho giảng viên, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu trong lĩnh vực chính trị. Tài liệu này không chỉ cung cấp các phương pháp và kỹ thuật để cải thiện năng lực tư duy mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng lý luận vào thực tiễn giảng dạy. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các kiến thức này, giúp họ trở thành những giảng viên xuất sắc hơn trong môi trường giáo dục chính trị.

Để mở rộng thêm kiến thức và tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ chính trị học công tác giáo dục lý luận chính trị ở trung tâm chính trị huyện tuy phước tỉnh bình định, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về giáo dục lý luận chính trị. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giảng viên tiếng anh các trường đại học không chuyên ngoại ngữ cũng là một tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến việc nâng cao năng lực giảng dạy. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên trường đại học hùng vương tỉnh phú thọ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý và phát triển năng lực giảng viên trong môi trường học thuật.