CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Từ “Văn hóa” (culture) có rất nhiều nghĩa, có thể được hiểu theo nghĩa thông dụng hoặc theo nghĩa khoa học. Riêng “văn hóa” được hiểu như là đối tượng của khoa học cũng được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” (Primitive Culture) xuất bản từ năm 1871, E.
Taylor, một tác giả đi tiên phong trong ngành nhân học và được coi là người đầu tiên có định nghĩa khoa học về “văn hóa”, thì: "Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [E. Taylor, 2001, 13] Định nghĩa của E. Taylor tuy không phân biệt “văn hóa” với “văn minh” nhưng cũng nêu được các đặc tính cơ bản của văn hóa. Theo Vũ Minh Chi, đó là Tính đối tự nhiên (văn hóa là năng lực và tập quán do con người “thu nhận” được), Tính cá thể - tính khác biệt (văn hóa là năng lực và tập quán mà con người thu nhận được với tư cách là “một thành viên của xã hội”), và Tính phức tạp – tính toàn thể (văn hóa là một phức thể gồm tri thức, tín ngưỡng…) [Vũ Minh Chi, 2004, 39-40] Từ sau định nghĩa của E.
Taylor, theo đà phát triển của khoa học xã hội và nhân văn cũng như tùy theo chuyên ngành nghiên cứu về văn hóa, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa nhằm làm rõ hơn 11 đặc trưng của văn hóa và cách tiếp cận văn hóa phù hợp với chuyên ngành.White đã định nghĩa: "Văn hóa là môi trường do con người tạo ra và nó tồn tại do năng lực tượng trưng hóa" [Leslie.White, Hoàng Ngọc Hiến lược dịch, Văn hóa dân gian, số 1-1995, 12]. White trong định nghĩa này là nhấn mạnh đến năng lực biểu trưng hóa của con người, xem như một trong những tiêu chí đặc thù phân biệt giữa con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa với các loài động vật khác, đồng thời gợi ra hướng tiếp cận văn hóa từ góc độ xem xét tính biểu trưng của của văn hóa. Theo Federico Mayor, tổng giám đốc UNESCO thì có nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng cách hiểu: "Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise.
Đến năm 1982, hội nghị thứ hai gọi là “Mondiacult” đã phê chuẩn cách tiếp cận đó" [Người đưa tin UNESCO, tháng 11-1989, 7] Định nghĩa của UNESCO đã nêu được cả về tính phổ quát của văn hóa lẫn tính đa dạng của của văn hóa. Đây là một trong những đóng góp đáng ghi nhận của tổ chức UNESCO. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng có định nghĩa về văn hóa: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó 12 tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn" [Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, 421]. Trong tình hình có quá nhiều định nghĩa về văn hóa, Trần Ngọc Thêm đã khảo sát nhiều định nghĩa về văn hóa và rút ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [Trần Ngọc Thêm, 1999, 10]. Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm đã vừa nhấn mạnh đến tính hệ thống của văn hóa, vừa nêu được những đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa, có ý nghĩa khoa học trong việc tiếp cận văn hóa với tư cách là hệ thống thống nhất hữu cơ với các quan hệ đa dạng của các thành tố tạo nên cấu trúc của hệ thống văn hóa. Tuy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng theo Trần Ngọc Thêm, suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong 13 [Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam, 2000, 17-18].
Theo cách hiểu trên, nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần, văn hóa tinh hoa.; còn chia theo thành tố, nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn gắn với văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, thuộc thành tố văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng [Trần Ngọc Thêm, 1997, 111]. Quả vậy, văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của một cá nhân cũng như của cả cộng đồng, đồng thời góp phần thể hiện rõ bản sắc văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc. Cách nhìn nhận về vị trí của văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn xét theo giới hạn chiều sâu và xét theo vai trò của chúng trong tổ chức đời sống cộng đồng chính là cơ sở lý luận cho chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 1.
Nếu như các thuật ngữ lý luận về văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn thường có cách hiểu khá thống nhất thì thuật ngữ về các hiện thực văn hóa thuộc hai mảng này rất phong phú, đa dạng. Việc định nghĩa những thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng trong việc giới thiệu các hiện thực văn hóa trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Qua tổng hợp và rút ra từ vốn thuật ngữ được định hướng đọc và chọn thuật ngữ của nhóm làm từ điển thuật ngữ văn hóa học như đã nói ở mục trước, chúng tôi có được 500 thuật ngữ thuộc văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn. Ngoài ra chúng tôi còn đọc thêm các tư liệu liên quan, truy cập internet và tổng hợp được số lượng trên 100 thuật ngữ.
14 Trong luận văn này, trên cơ sở lựa chọn thuật ngữ như tiêu chí đã đề ra trong mục Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chọn khoảng 308 từ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi gặp những khó khăn nhất định trong việc tìm thông tin cho mỗi mục từ vì thời gian có hạn cũng như hạn chế về tài liệu và hình ảnh, vì vậy một số từ và hình ảnh dù cần thiết cho hệ thống thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn nhưng không được đưa vào hệ thống và một số mục từ còn thiếu hình ảnh minh họa. Sau này, khi có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung những gì còn thiếu sót trong luận văn này để xây dựng hệ thống thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn ở mức độ rộng hơn. 15 CHƯƠNG 2 THUẬT NGỮ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ 2.
Quy cách: Từ khoảng 600 thuật ngữ thu thập được từ việc khảo sát và phân tích các tài liệu cơ bản và các từ điển về nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn, chúng tôi đã chọn lọc được 126 từ mang tính chuyên môn, phổ biến trong nghệ thuật ngôn từ. Trên cơ sở đó, chúng tôi phân loại từ theo 3 lĩnh vực gồm thuật ngữ về lý luận, các thuật ngữ gắn với chủ thể và các thuật ngữ gắn với sản phẩm. Việc phân loại này chỉ mang tính tương đối vì có những trường hợp không dễ phân biệt rạch ròi, như giữa mục từ về lý luận và mục từ về chủ thể chẳng hạn. Cấu trúc mỗi mục từ gồm có: - Thuật ngữ tiếng Việt - Thuật ngữ tương đương nếu có (tiếng Anh) - Hình ảnh (nếu có) - Giải nghĩa và thông tin: gồm Quan hệ hàng trên (thuộc loại nào) và quan hệ hàng dưới (bao gồm những loại nào).
Quan hệ hàng dưới sẽ được in nghiêng để phân biệt và thể hiện sự liên hệ với từ hàng trên (không theo trật tự abc). Ví dụ: mục từ Thơ có quan hệ hàng dưới là Thơ trào phúng, Thơ trữ tình, Thơ tự do, Thơ văn xuôi. - Tài liệu đọc thêm (nếu cần). Lý luận Bố cục (disposition) Một bộ phận của kết cấu, là bề mặt của kết cấu.
Khi sáng tác, nhà văn có những chủ đích nhất định về tư tưởng và nghệ thuật. Theo những chủ đích ấy, nhà văn xây dựng một kết cấu: bố trí sắp xếp các nhân vật, các sự kiện, các cảnh, các đoạn trữ tình ngoại đề… thành hệ thống trong một chỉnh thể tác phẩm. Bút pháp (penmanship) Cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó. Bút pháp cũng tức là cách viết, lời viết.
Người ta thường nói: bút pháp trào lộng, bút pháp trữ tình, bút pháp cổ kính… Cảm hứng chủ đạo (main inspiration) Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo còn là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả.