Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán phái sinh. - Chương 2: Thực trạng các điều kiện xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam. - Chương 3: Giải pháp xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1.1 Khái quát chung về thị trƣờng chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán phái sinh 1.1 Thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng chứng khoán phái sinh Chứng khoán: chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh. Cũng như các loại hàng hóa khác, chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt lưu thông trên thị trường riêng của nó: Thị trường chứng khoán.
Phân loại chứng khoán: - Căn cứ vào nội dung: chia ra chứng khoán nợ và chứng khoán vốn: Chứng khoán nợ: chứng nhận nợ do Nhà nước hoặc các doanh nghiệp phát hành khi cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn. Điển hình là các loại trái phiếu. Chứng khoán vốn: Là chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào các công ty cổ phần. Đó là các loại cổ phiếu – cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
- Căn cứ vào hình thức: chứng khoán được phát hành có thể là dưới hình thức vô danh hoặc ký danh: Chứng khoán vô danh (bearer securities): trên các chứng nhận nợ hay góp vốn không có ghi tên người sở hữu, loại chứng khoán này có thể dễ dàng mua bán chuyển đổi trên thị trường chứng khoán. Chứng khoán ký danh (registered securities): là loại chứng khoán mà tên người sở hữu được lưu giữ trong hồ sơ của chủ thể phát hành cũng như trên tờ giấy chứng khoán. Việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán này có phần khó khăn hơn chứng khoán vô danh ngay cả khi được sự đồng ý của cơ quan phát hành ra nó. - Căn cứ vào lợi tức chứng khoán: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chứng khoán có lợi tức ổn định: người nắm giữ loại chứng khoán này được hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên mệnh giá chứng khoán.
Điển hình là các loại trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi. Chứng khoán có lợi tức không ổn định: có nhiều loại chứng khoán mà nhà đầu tư yêu cầu mức lợi tức cao hơn nhiều so với mức lợi tức ổn định. Các loại chứng khoán này thường mang tính chất rủi ro cao và không ổn định. Điển hình là cổ phiếu thường của công ty cổ phần.
Chứng khoán phái sinh (derivatives): là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu,… nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền , hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps).
Thị trƣờng chứng khoán: là một bộ phận của thị trường vốn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán; qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Thị trƣờng Chứng khoán Phái sinh: là thị trường giao dịch các loại công cụ phái sinh liên quan đến chứng khoán như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn cổ phiếu, hợp đồng giao sau cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu…. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có bốn công cụ chính là Hợp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps).
Thị trường chứng khoán phái sinh được hiểu như là sân chơi cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các nhà tạo lập thị trường. Thực tế cho thấy, ở tất cả các nước khi mà thị trường chứng khoán phát triển đạt đến trình độ phát triển nhất định thì Thị trường chứng khoán phái sinh mới ra đời và chính thức đi vào hoạt động, lý do bởi tính chuyên nghiệp và mức độ phức tạp của thị trường. Ở bất kỳ thị trường nào, dù là thị trường bất động sản hay chứng khoán cũng luôn tồn tại dưới hai hình thức: đó là thị trường chính thức (hay còn gọi là thị trường giao dịch tâp trung, thị trường giao dịch tại Sở) và thị trường không chính thức (hay còn gọi là thị trường OTC), và Thị trường chứng khoán phái sinh cũng vậy. Phƣơng thức giao dịch: có hai phương thức giao dịch, chính các phương thức giao dịch này hình thành nên hay 2 loại thị trường: Thị trƣờng chứng khoán phái sinh phi tập trung (OTC): là thị trường mà ở đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau, trao đổi và mua bán, nghĩa là các bên tham gia giao dịch không cần đến Sở hay phải thông qua bất kỳ một trung gian nào.
Bên mua và bên bán tự tìm đến nhau, tự do trao đổi, thoả thuận và đi đến quyết định mua bán cuối cùng. Nhìn chung, các bên mua bán tự thoả thuận và ký kết hợp đồng, không có điều khoản bắt buộc phải ký quỹ Thị trƣờng chứng khoán phái sinh tập trung (Thị trƣờng giao dịch tại Sở): là thị trường mà hoạt động mua bán các công cụ phái sinh đều phải thông qua Sở Giao dịch (trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua giao dịch trực tuyến). Sở đóng vai trò như một tổ chức trung gian trong tất cả các hoạt động mua bán, yêu cầu 2 bên mua bán trước khi tiến hành hoạt động mua bán phải ký quỹ tại Sở như một điều kiện đảm bảo giữa 2 bên. Ở thị trường này, ký quỹ là một quy định bắt buộc đối với các bên sau khi hợp đồng được ký kết.
Cơ chế ký quỹ được duy trì ở 2 mức: đó là mức ký quỹ ban đầu và mức ký quỹ duy trì. Mức ký quỹ ban đầu là mức ký quỹ được quy định bắt buộc các bên phải thực hiện việc ký quỹ, tuỳ thuộc vào hợp đồng được ký kết mà Sở yêu cầu mức ký quỹ ban đầu các bên phải ký quỹ là bao nhiêu. Mức ký LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 quỹ duy trì là mức ký quỹ tối thiểu mà các bên cần phải có trước những biến động giá trên thị trường. Nếu giá thị trường biến động bất lợi cho bên mua hay bên bán, mà sau khi thực hiện bù trừ, mức ký quỹ của họ bị giảm xuống thấp hơn mức ký quỹ duy trì thì lập tức Sở sẽ yêu cầu họ thực hiện ký quỹ bổ sung.
Ký quỹ ở đây có thể là tiền, hoặc cũng có thể là các chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung, tùy thuộc vào quy định pháp luật của mỗi quốc gia. Về hàng hoá giao dịch: - Ở thị trường OTC, các chứng khoán phái sinh phổ biến: hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. Các điều khoản ghi trong hợp đồng không tuân thủ theo chuẩn mực nào cả và cũng không bị chi phối hay giám sát của điều luật nào khác, mà ngược lại rất linh hoạt, dựa vào nhu cầu và thoả thuận của chính những người tham gia ký kết hợp đồng. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với Thị trường chứng khoán phái sinh tập trung.
Thị trường OTC ngày nay đang phát triển rất mạnh. - Còn ở Thị trường chứng khoán phái sinh giao dịch tại Sở, công cụ phái sinh được giao dịch phổ biến trên thị trường là hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai. Hợp đồng giao dịch tại Sở có các điều khoản ghi trong đó được chuẩn hoá về chất lượng (thứ hạng), về thời gian, địa điểm, phương thức, quy mô hợp đồng…, và chịu sự chi phối của các quy định tại Sở, hệ thống luật pháp. Về thành viên giao dịch: - Ở thị trường chứng khoán phái sinh OTC: các thành viên giao dịch là những nhà đầu tư trực tiếp tham gia thực hiện giao dịch, họ không phải qua trung gian nào.
- Ở thị trường chứng khoán phái sinh tập trung: thành viên giao dịch bao gồm những thành viên như sau: + Nhà phát hành Chứng khoán phái sinh (Writer or Seller): là những chủ thể sẽ cung cấp chứng khoán phái sinh cho thị trường. Nhà phát hành có thể là cá nhân, tổ chức và cũng có thể là các nhà tạo lập thị trường do chịu trách nhiệm sẵn sàng đáp ứng mọi lệnh mua hoặc bán của nhà đầu tư đối với chứng khoán phái sinh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + Nhà tạo lập thị trường (Market maker): Người tạo lập thị trường sẽ chủ động đưa ra giá đặt mua và chào bán theo cung - cầu của thị trường và đảm bảo cho lệnh mua và lệnh bán luôn được thực hiện. Khi một nhà đầu tư muốn mua/bán chứng khoán phái sinh và không có thành viên nào trên thị trường muốn bán/mua chứng khoán phái sinh đó, nhà tạo lập thị trường sẽ thực hiện giao dịch.
Hệ thống này đảm bảo nếu nhà đầu tư muốn mua 1 loại chứng khoán phái sinh nào đó thì sẽ có người sẵn sàng chào bán, và nếu một người muốn bán sẽ có người sẵn sang mua. Do đó, nhà tạo lập thị trường sẽ giúp điều hòa và làm tăng khả năng linh hoạt cho thị trường, thông qua đó tạo ra lợi nhuận cho chính mình từ chênh lệch giá mua và giá bán. + Nhà môi giới (Broker): gồm có môi giới tại các công ty chứng khoán và trên SGD, đây là những người thực hiện giao dịch cho nhà đầu tư. Khi nhà đầu tư muốn đặt lệnh mua hay bán chứng khoán phái sinh sẽ liên hệ với công ty chứng khoán; sau đó, môi giới tại công ty chứng khoán sẽ chuyển lệnh đến nhà môi giới trên sàn.