Luận văn: Thực hiện chính sách xây dựng NTM tại huyện Krông Pắc, Đắk Lắk

Luận văn thạc sĩ về thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Pắc, Đắk Lắk. Nghiên cứu, đánh giá và giải pháp phát triển nông thôn.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách Krông Pắc Đắk Lắk xây dựng Nông thôn mới Nền tảng và tầm nhìn chiến lược

Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới (NTM) đóng vai trò then chốt trong phát triển đất nước, đặc biệt đối với khu vực nông thôn chiếm trên 70% dân số Việt Nam. Đây không chỉ là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước mà còn là một chương trình tổng thể, toàn diện về phát triển kinh tế – xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, dựa trên tinh thần Nghị quyết lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Mặc dù xuất phát điểm còn nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các huyện vùng Tây Nguyên như Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk NTM đã đạt được những thành tựu nhất định. Huyện Krông Pắc Đắk Lắk luôn xác định Xây dựng Nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng sống của nhân dân trên địa bàn. Qua hơn một thập kỷ triển khai, bộ mặt nông thôn ở Krông Pắc đang dần đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền. Việc nghiên cứu sâu về quá trình thực hiện chính sách này tại Krông Pắc giúp đánh giá thực trạng, làm rõ ưu khuyết điểm và rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho cả địa phương và toàn quốc.

1.1. Bối cảnh và ý nghĩa của chương trình Nông thôn mới tại địa phương.

Tại Krông Pắc, Đắk Lắk, chương trình Nông thôn mới mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước năm 2010, khi chưa có chủ trương về Xây dựng Nông thôn mới, tình hình kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh của huyện còn nhiều bất cập. Đời sống của người dân các dân tộc trên địa bàn đối mặt với vô vàn khó khăn. Nguồn thu nhập chủ yếu đến từ ngành nông nghiệp, chiếm tới 80% tỷ trọng kinh tế huyện, với phương thức sản xuất còn lạc hậu và năng suất thấp do chưa ứng dụng khoa học kỹ thuật. Thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển đồng bộ. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 11 triệu đồng/người/năm, và tỷ lệ hộ nghèo lên tới trên 30%, thậm chí có xã trên 60%. Chính trong bối cảnh đó, chương trình Nông thôn mới đã trở thành động lực mạnh mẽ, giúp Krông Pắc, Đắk Lắk thay đổi diện mạo, nâng cao đời sống người dân và phát triển toàn diện, thu hẹp khoảng cách với khu vực thành thị. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 32]

1.2. Các tiêu chí NTM và mục tiêu trọng tâm huyện Krông Pắc đặt ra.

Việc xác định rõ các tiêu chí NTM là nền tảng để huyện Krông Pắc Đắk Lắk định hướng chiến lược Xây dựng Nông thôn mới. Dựa trên bộ tiêu chí quốc gia, Krông Pắc đã cụ thể hóa thành các mục tiêu NTM phù hợp với đặc thù địa phương. Huyện ủy Krông Pắc ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HU ngày 01/4/2015, định hướng Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2025. Tất cả 15 xã trên địa bàn huyện đều đã xây dựng nghị quyết của Đảng ủy và kế hoạch của UBND xã để triển khai chương trình. Đến năm 2019, Hội đồng nhân dân huyện tiếp tục ban hành Nghị quyết số 16/NQ-HĐND về bổ sung cơ chế chính sách hỗ trợ NTM cho việc làm đường xóm và đường trục chính nội đồng. Những mục tiêu này bao gồm phát triển hạ tầng nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống người dân, cải thiện văn hóa nông thôn mới, môi trường nông thôn, và đảm bảo an ninh trật tự nông thôn. Các tiêu chí này được coi là kim chỉ nam cho sự phát triển toàn diện và bền vững của huyện Krông Pắc. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 33]

II. Thách thức còn tồn đọng trong Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc Đắk Lắk

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu đáng kể, quá trình Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới được xây dựng và áp dụng chung cho toàn quốc. Tuy nhiên, do đặc thù riêng về địa hình, nền kinh tế, phong tục tập quán và lối sống của từng vùng miền, khi triển khai tại các địa phương khác nhau, chương trình gặp phải những trở ngại khác biệt. Huyện Krông Pắc Đắk Lắk với đặc điểm riêng của mình, không nằm ngoài những khó khăn đó. Sự thiếu linh hoạt trong cơ chế, chính sách hỗ trợ NTM đôi khi chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế, dẫn đến những hạn chế nhất định trong quá trình triển khai. Để đạt được các mục tiêu NTM đề ra, việc nhận diện và vượt qua các thách thức này là yếu tố then chốt. Những vấn đề này đòi hỏi sự điều chỉnh linh hoạt và các giải pháp sáng tạo để đảm bảo hiệu quả bền vững cho Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk.

2.1. Hạn chế về nguồn lực và cơ chế chính sách hỗ trợ NTM chưa linh hoạt.

Một trong những rào cản chính khi Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk là sự hạn chế về nguồn lực NTM và cơ chế chính sách hỗ trợ NTM chưa thực sự linh hoạt. Trước năm 2010, thu ngân sách trên địa bàn huyện chỉ đạt khoảng 55 đến 57 tỷ đồng/năm, không đủ để đảm bảo các khoản chi và phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách cấp trên. Điều này gây khó khăn trong việc huy động vốn đầu tư NTM cần thiết cho các công trình hạ tầng và phát triển kinh tế. Chương trình Nông thôn mới mặc dù có chính sách chung, nhưng việc áp dụng đồng loạt cho các địa phương với đặc thù khác nhau đã bộc lộ những hạn chế. Ví dụ, về địa hình, nền kinh tế và phong tục tập quán, lối sống của người dân Krông Pắc có sự khác biệt so với các vùng khác, đòi hỏi những cơ chế điều chỉnh linh hoạt hơn. Tuy nhiên, sự chậm trễ trong việc điều chỉnh hoặc thiếu các chính sách đặc thù đã phần nào ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của việc thực hiện các tiêu chí NTM tại huyện. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 32]

2.2. Những khó khăn trong phát triển kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống.

Trước khi triển khai chương trình Nông thôn mới, huyện Krông Pắc Đắk Lắk đối mặt với nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế nông thôn. Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu, chiếm 80% tỷ trọng, nhưng phương thức sản xuất còn lạc hậu, độc canh, chưa đầu tư khoa học kỹ thuật, dẫn đến năng suất rất thấp. Các nông - lâm trường chủ yếu trồng cà phê và rừng sản xuất kinh doanh theo mô hình độc canh, ít đa dạng hóa. Thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp tại huyện, dù nằm ven Quốc lộ 26, vẫn chưa phát triển tương xứng, chủ yếu là nhỏ lẻ và manh mún. Điều này làm cho thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp (khoảng 11 triệu đồng/người/năm) và kéo theo tỷ lệ hộ nghèo cao. Đời sống khó khăn cũng dẫn đến các hệ lụy về an ninh trật tự nông thôn, với nhiều vụ việc gây bất ổn trong nhân dân. Những tồn tại này đòi hỏi huyện Krông Pắc phải có những giải pháp căn cơ để nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy cơ cấu kinh tế Krông Pắc theo hướng bền vững hơn. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 32]

III. Bí quyết triển khai chính sách Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc Đắk Lắk thành công

Để đạt được những thành tựu như ngày nay, Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk đã áp dụng nhiều bí quyết quan trọng trong công tác triển khai chính sách. Sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cùng với việc phát huy tối đa vai trò của cộng đồng, là yếu tố then chốt. Huyện Krông Pắc Đắk Lắk đã chủ động xây dựng các kế hoạch triển khai cụ thể, bám sát các tiêu chí NTMmục tiêu NTM của từng giai đoạn. Công tác tuyên truyền, vận động được đặt lên hàng đầu, giúp người dân hiểu rõ về tầm quan trọng, mục đích và quyền lợi khi tham gia. Bên cạnh đó, việc phân công, phối hợp thực hiện một cách đồng bộ, rõ ràng giữa các cấp, các ngành đã tạo nên sức mạnh tổng hợp. Đặc biệt, khả năng điều chỉnh chính sách linh hoạt, phù hợp với thực tiễn địa phương, đã giúp Krông Pắc vượt qua những khó khăn, vướng mắc và đạt được những kết quả đáng khích lệ trong chương trình Nông thôn mới.

3.1. Công tác chỉ đạo NTM tuyên truyền vận động cộng đồng tham gia.

Huyện Krông Pắc Đắk Lắk đã đặc biệt chú trọng công tác chỉ đạo NTM và tuyên truyền, vận động nhân dân. Huyện ủy ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HU (2015) và Nghị quyết số 16-NQ/HU (2019) về Xây dựng Nông thôn mới, chỉ đạo các tổ chức Đảng quán triệt sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tất cả 15 xã đều ban hành nghị quyết và kế hoạch của UBND xã để triển khai. Công tác tuyên truyền được xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, thường xuyên vận động các thành viên, hội viên và nhân dân tham gia. Các cuộc vận động như “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới”, “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi”, “Dân vận khéo”, “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới” được triển khai mạnh mẽ. Qua các lớp quán triệt, học tập Nghị quyết số 26/NQ-TW, Nghị quyết 03-NQ/TU, Nghị quyết 04-NQ/HU, cán bộ, đảng viên và nhân dân đã hiểu rõ tầm quan trọng, mục đích, yêu cầu và nội dung chương trình. Từ đó, người dân đã tự giác, tự nguyện tham gia, đóng góp tích cực vào việc thực hiện chương trình Nông thôn mới tại địa phương. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 33-34]

3.2. Phân công phối hợp thực hiện và điều chỉnh chính sách linh hoạt.

Sự thành công của Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk đến từ việc phân công, phối hợp thực hiện rõ ràng và điều chỉnh chính sách linh hoạt. Huyện ủy, UBND huyện và Ban chỉ đạo Xây dựng NTM huyện đã xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng phòng ban, bộ phận. Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý điều hành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động quần chúng nhân dân tham gia và thực hiện chức năng giám sát. Văn phòng điều phối Xây dựng Nông thôn mới cấp huyện và Ban chỉ đạo cấp xã được thành lập để tham mưu và triển khai. Đặc biệt, việc áp dụng cơ chế đặc thù trong thực hiện các công trình kỹ thuật thấp, giao cho tổ thợ, tốp thợ, tổ chức đoàn thể cộng đồng dân cư đã mang lại hiệu quả to lớn, tiết kiệm kinh phí và nâng cao chất lượng công trình do sự tham gia trực tiếp của nhân dân. Các chính sách cũng được điều chỉnh kịp thời, như việc Nghị quyết 04/NQ-HU về số xã về đích NTM được điều chỉnh lên 2 xã vào năm 2015, hoặc thay đổi chính sách hỗ trợ NTM từ xi măng sang cát, đá cho công trình giao thông nông thôn. Sự linh hoạt này đã góp phần quyết định thành công của chương trình Nông thôn mới tại huyện Krông Pắc. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 35-38]

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc Đắk Lắk

Để tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk, các giải pháp cần tập trung vào việc duy trì và phát huy những thành quả đã đạt được, đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Huyện Krông Pắc Đắk Lắk đã và đang triển khai đồng bộ các nội dung từ quy hoạch NTM đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, cải thiện hạ tầng nông thôn và nâng cao chất lượng các dịch vụ xã hội. Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, sự đồng lòng của người dân và khai thác tối đa nguồn lực NTM. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, việc ứng dụng công nghệ, đa dạng hóa mô hình kinh tế và bảo vệ môi trường nông thôn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các giải pháp này không chỉ giúp hoàn thành các tiêu chí NTM mà còn hướng tới mục tiêu xây dựng một nông thôn mới thực sự phát triển bền vững, văn minh và đáng sống cho người dân Krông Pắc.

4.1. Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững và sản phẩm OCOP.

Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập là trọng tâm của Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk. Huyện tích cực động viên nhân dân phát huy tiềm năng về đất đai, lao động, nguồn vốn để duy trì và mở rộng đa dạng các loại hình sản xuất nông nghiệp bền vững, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả hơn, gắn với thị trường là yếu tố cốt lõi. Ví dụ điển hình là HTX Dịch vụ nông nghiệp Ea Yiêng đã thành công trong việc giúp người dân thay đổi tư duy làm nông nghiệp, chuyển đổi sang giống sả đỏ Java để chưng cất tinh dầu. Việc này không chỉ giúp người dân thoát nghèo mà còn hướng tới làm giàu. Bên cạnh đó, phát triển sản phẩm OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm) cũng được chú trọng, với các dự án liên kết trọng điểm như sản xuất, chế biến tinh dầu sả tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Ea Yiêng, phát triển sầu riêng bền vững tại HTX Bơ, Sầu riêng xanh, và chế biến cà phê ướt tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Thăng Tiến. Đây là những hướng đi chiến lược giúp cơ cấu kinh tế Krông Pắc trở nên đa dạng và bền vững hơn. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 37, 42]

4.2. Cải thiện hạ tầng nông thôn và các dịch vụ xã hội.

Cải thiện hạ tầng nông thôn là một trong những thành tựu nổi bật của Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk. Trong giai đoạn 2015-2020, huyện đã huy động nguồn lực NTM trong nhân dân kết hợp với chi ngân sách để làm mới thêm 2.023 km đường giao thông nông thôn, đồng thời duy trì 100% đường xã, đường ngõ xóm đạt chuẩn. Hệ thống điện, thủy lợi cũng được chú trọng, với việc tu sửa, cải tạo 192km đường dây điện, 24 trạm biến áp và kiên cố hóa 48km kênh mương nội đồng. Về dịch vụ xã hội, giáo dục y tế nông thôn được quan tâm đúng mức: 59/102 trường học đạt chuẩn quốc gia, và 16/16 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Các hoạt động văn hóa nông thôn mới, văn nghệ, thể dục thể thao được duy trì thường xuyên, tạo nên đời sống văn minh, lành mạnh. Công tác bảo vệ môi trường nông thôn cũng được chú trọng, với việc thường xuyên dọn vệ sinh đường làng, ngõ xóm, thu gom rác thải và trồng cây xanh, trồng hoa, góp phần tạo nên các khu dân cư sáng, xanh, sạch, đẹp và an toàn. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 37, 41]

V. Kết quả đạt được khi Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc Đắk Lắk Bức tranh toàn diện

Sau nhiều năm triển khai chương trình Nông thôn mới, huyện Krông Pắc Đắk Lắk đã đạt được những thành tựu ấn tượng, góp phần thay đổi đáng kể diện mạo và đời sống của người dân. Sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị và vai trò của cộng đồng đã biến những mục tiêu NTM thành hiện thực. Từ một huyện có xuất phát điểm thấp, Krông Pắc đã vươn lên, hoàn thành nhiều tiêu chí NTM quan trọng, đưa huyện tiến gần hơn đến mục tiêu phát triển bền vững. Những kết quả này không chỉ thể hiện qua số lượng các xã đạt chuẩn NTM Krông Pắc mà còn qua sự cải thiện rõ rệt về hạ tầng, kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân. Đây là minh chứng cho hiệu quả của các chính sách hỗ trợ NTM và sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng bộ và nhân dân huyện Krông Pắc trong công cuộc Xây dựng Nông thôn mới.

5.1. Đánh giá số liệu và xã đạt chuẩn NTM Krông Pắc giai đoạn 2015 2020.

Kết quả Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk trong giai đoạn 2015-2020 cho thấy những bước tiến vượt bậc. Tính đến cuối năm 2020, toàn huyện Krông Pắc Đắk Lắk có 12/15 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, chiếm 80% tổng số xã, tăng mạnh so với năm 2015 chỉ có 2 xã. Trong đó, huyện có 1 xã đạt chuẩn Nông thôn mới kiểu mẫu và 2 xã đạt chuẩn Nông thôn mới nâng cao. Số tiêu chí bình quân đạt 17,7 tiêu chí/xã, và không còn xã nào đạt dưới 5 tiêu chí. Tổng vốn đầu tư NTM huy động được trong giai đoạn 2010-2019 đạt trên 5 nghìn tỷ đồng, bao gồm ngân sách nhà nước, vốn lồng ghép, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và đáng chú ý là 572 tỷ đồng huy động từ người dân. Những con số này khẳng định hiệu quả của công tác chỉ đạo NTM và sự chung tay của toàn xã hội. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 41-42]

5.2. Tác động đến nâng cao đời sống người dân và thay đổi bộ mặt nông thôn.

Các thành tựu trong Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk đã có tác động sâu rộng đến việc nâng cao đời sống người dân. Năm 2020, thu nhập bình quân của người dân đạt gần 41 triệu đồng/người/năm, tăng đáng kể so với trước. Tỷ lệ người dân khu vực nông thôn tham gia bảo hiểm y tế đạt gần 82%, và gần 93,5% dân số được sử dụng nước sạch. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 48%, trong đó 40% qua đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chương trình giảm nghèo bền vững cũng đạt hiệu quả cao, với tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn 5,54% vào năm 2020. Bộ mặt hạ tầng nông thôn được đổi mới đáng kể với hàng trăm km đường giao thông, hệ thống điện, thủy lợi được nâng cấp. Hoạt động văn hóa nông thôn mới phát triển, cùng với việc cải thiện môi trường nông thôn và đảm bảo an ninh trật tự nông thôn, đã tạo nên một bức tranh nông thôn mới sáng, xanh, sạch, đẹp và văn minh, củng cố lòng tin vững chắc của nhân dân vào Đảng và chính quyền. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 41, 43]

VI. Định hướng và triển vọng Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc Đắk Lắk đến năm 2025

Nhìn về tương lai, Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk tiếp tục đặt ra những định hướng và triển vọng đầy tham vọng đến năm 2025. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc duy trì các tiêu chí NTM đã đạt được mà còn hướng tới nâng cao chất lượng và phát triển bền vững hơn nữa. Huyện Krông Pắc Đắk Lắk sẽ tập trung vào việc củng cố các thành quả, đồng thời giải quyết triệt để những thách thức còn tồn đọng. Sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền và sự tham gia chủ động của vai trò của cộng đồng sẽ tiếp tục là nền tảng cho mọi nỗ lực. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương khác và rút ra bài học từ chính thực tiễn của huyện Krông Pắc sẽ là kim chỉ nam để chương trình Nông thôn mới tại đây đạt được những thành công vượt trội trong giai đoạn sắp tới, hướng tới một nông thôn thực sự phồn vinh và văn minh.

6.1. Mục tiêu và lộ trình hướng tới xã nông thôn mới kiểu mẫu.

Định hướng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đến năm 2025 tập trung vào việc duy trì và nâng cao các tiêu chí NTM đã đạt được, đồng thời hướng tới mục tiêu cao hơn. Huyện đã có 1 xã đạt chuẩn Nông thôn mới kiểu mẫu và 2 xã đạt Nông thôn mới nâng cao. Lộ trình tiếp theo sẽ là phát triển thêm các xã nông thôn mới kiểu mẫu, đồng thời nâng cấp các xã đã đạt chuẩn NTM lên chuẩn NTM nâng cao. Việc này đòi hỏi sự tiếp tục đầu tư vào hạ tầng nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững, và nâng cao đời sống người dân. Đặc biệt, quy hoạch NTM cần được rà soát và điều chỉnh liên tục để phù hợp với tình hình thực tiễn và các mục tiêu mới. Công tác chỉ đạo NTM sẽ tiếp tục được tăng cường, với sự kiểm tra giám sát NTM chặt chẽ để đảm bảo nguồn lực được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích, góp phần hoàn thành các mục tiêu NTM đã đề ra. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 65-69]

6.2. Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị cho chương trình Nông thôn mới bền vững.

Từ thực tiễn Xây dựng Nông thôn mới ở Krông Pắc, Đắk Lắk, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút ra. Đầu tiên, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của chính quyền là tối quan trọng, với việc ban hành các nghị quyết và kế hoạch cụ thể. Thứ hai, vai trò của cộng đồng được phát huy tối đa thông qua các phong trào tuyên truyền, vận động, thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ". Thứ ba, sự linh hoạt trong điều chỉnh chính sách hỗ trợ NTM và áp dụng cơ chế đặc thù đã giúp giải quyết các vướng mắc tại địa phương. Cuối cùng, kiểm tra giám sát NTM định kỳ và đánh giá tổng kết là cần thiết để kịp thời tháo gỡ khó khăn và khen thưởng các điển hình tiên tiến. Khuyến nghị cho chương trình Nông thôn mới bền vững bao gồm tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp bền vững, đẩy mạnh phát triển sản phẩm OCOP, và nâng cao chất lượng giáo dục y tế nông thôn. Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp liên ngành và huy động mọi nguồn lực NTM để xây dựng một nông thôn thực sự hiện đại, văn minh và đáng sống. [Trích dẫn từ Nguyễn Thị Phương Lan, 2021, trang 39-40, 69-76]

27/09/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới huyện krông pắc tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của Luận văn đã khái quát cơ sở lý luận và phân tích được một số khái niệm về chính sách, chính sách công, nông thôn, NTM, chính sách xây dựng NTM; các chủ thể, phương thức thực hiện chính sách xây dựng NTM; các yếu tố tác động đến việc thực hiện và kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng NTM ở một số địa phương, qua đó để đánh giá tổng quát những kết quả đạt được, những vấn đề cần áp dụng, nghiên cứu trong đề tài của Luận văn. Để làm rõ hơn về những nội dụng này, tác giả tiếp tục nghiên cứu đến thực trạng thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại Chương 2. 29 Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN KRÔNG PẮC 2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến đến chính sách xây dựng NTM 2.

Yếu tố tự nhiên: Huyện Krông Pắc nằm ở phía đông tỉnh Đắk Lắk, dọc hai bên Quốc lộ 26, từ km 12 đến km 50, trung tâm huyện cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 30 km, có diện tích tự nhiên là 62. Huyện Krông Pắc được nối liền với trung tâm các huyện trong tỉnh bởi hệ thống Quốc lộ và Tỉnh lộ, rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế - xã hội, thương mại, dịch vụ, du lịch. Nằm trên trục Quốc lộ 26, cách thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hoà khoảng 160 km, cách sân bay Buôn Ma Thuột khoảng 30 km, đây chính là điều kiện khá thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của huyện; có điều kiện tăng cường các quan hệ hợp tác đầu tư phát triển. Thị trấn Phước An là trung tâm Văn hóa, chính trị, kinh tế của huyện.

Trung tâm thị trấn Phước An có điểm giao cắt giữa Quốc lộ 26 với Tỉnh lộ 9 nối Krông Pắc với huyện Krông Bông. Với địa hình tương đối bằng phẳng, thời tiết thuận hòa, tài nguyên phong phú đã giúp cho việc triển khai chính sách xây dựng NTM gặp được nhiều thuận lợi. Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội Giai đoạn 2015 – 2020, kinh tế của huyện có bước tăng trưởng khá với tốc độ bình quân 9,78%/năm; trong đó, nông - lâm nghiệp tăng 5,73%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng 16,72%; thương mại - dịch vụ tăng 15,48%. Tổng giá trị sản xuất toàn ngành kinh tế (theo giá hiện hành) đến năm 2020 ước đạt 13.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là 618,702 tỷ đồng (bình quân mỗi năm thu được 123,74 tỷ đồng); thu nhập bình quân đầu người đạt 45,48 triệu đồng/năm, tăng 17,48 triệu đồng so với đầu nhiệm kỳ.217 cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu phát triển các ngành có lợi thế về nguồn nguyên liệu như: chế biến nông, lâm sản, thực phẩm; khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí. Trong giai đoạn 2015 - 2020, huyện cũng đã sử dụng hiệu quả các nguồn vốn từ Trung ương, tỉnh, ngân sách huyện và khai thác các nguồn lực trong xã hội để lồng ghép đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng. Đến năm 2020, tỷ lệ nhựa hóa, bê tông hóa đường huyện đạt 92%; tỷ lệ nhựa hóa, bê tông hóa đường xã, liên xã ước đạt 67%. Giai đoạn này, nguồn vốn huy động toàn xã hội của toàn huyện đạt 4.621 tỷ đồng, so với nghị quyết đạt 100,17%.

Trong đó, ngân sách Trung ương và của tỉnh là 777 tỷ đồng; ngân sách huyện 847 tỷ đồng; ngân sách xã 23 tỷ đồng; các nguồn người dân đóng góp và huy động khác là 2. Huyện có 10/15 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 8 xã so với đầu nhiệm kỳ, đạt 100% nghị quyết đề ra. Trong đó có 1 xã nông thôn mới kiểu mẫu, 2 xã nông thôn mới nâng cao; số xã còn lại đạt ít nhất 10 tiêu chí/xã. Đi đôi với phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, Đảng bộ huyện Krông Pắc cũng luôn chăm lo phát triển văn hóa, giáo dục, y tế.

Cơ sở vật chất giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Toàn huyện đã có 59/102 trường học đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 57,8% (tăng 27,61% so với năm 2015). Chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng cao, đáp ứng yêu cầu phục vụ người bệnh ngay tại tuyến xã với 16/16 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo bền vững, các chính sách an sinh xã hội, đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn 5,54% (giảm 11,96%), đạt 100,06% so với nghị quyết, hộ cận nghèo còn 3,82%.

Đảng bộ huyện Krông Pắc có 48 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, trong đó có 23 đảng bộ (với 504 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở) và 25 chi bộ cơ sở. Toàn Đảng bộ có 7.116 đảng viên, trong đó 2.793 đảng viên nữ; 1.228 đảng viên dân tộc thiểu số; 71 đảng viên là người có đạo. Huyện ủy Krông Pắc xác định: Để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới việc nghiên cứu, 31 quán triệt, học tập và triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng nhằm nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy các cấp đối với việc tổ chức quán triệt, học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Trong quán triệt, học tập nghị quyết, Huyện ủy cũng đã chỉ đạo đổi mới hình thức, hạn chế phương pháp “đọc - nghe” một cách thụ động như trước đây, mà báo cáo viên phải chú trọng phân tích những điểm mới, điểm cốt lõi của nghị quyết, gắn với liên hệ tình hình thực tế ở địa phương, đơn vị.

Tình hình phát triển kinh tế trước khi thực hiện chính sách nông thôn mới tại Krông Pắc Trước năm 2010 khi chưa có Chủ trương về xây dựng NTM, tình hình kinh tế - văn hóa xã hội và quốc phòng an ninh tại huyện Krông Pắc còn nhiều bất cập, đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn. Toàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn với khoảng 199. Về kinh tế: nguồn thu nhập chủ yếu từ ngành nông nghiệp chiếm 80% tỷ trọng của huyện. Thương mại dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp chưa được phát triển sản xuất còn lạc hậu.

Các Nông - Lâm trường sản xuất nông nghiệp trồng cà phê và trồng rừng sản xuất kinh doanh chủ yếu là độc canh. Nông nghiệp trong nhân dân sản xuất nhỏ lẻ, chưa đầu tư khoa học kỹ thuật nên năng suất rất thấp. Về thương mại dịch vụ tiểu thủ công nghiệp: tuy là huyện nằm ở ven Quốc lộ 26 nhưng thương mại chưa được phát triển, ngành công nghiệp chưa được đầu tư, dịch vụ tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là nhỏ lẻ, manh mún. Từ những đặc điểm sơ bộ nêu nên đời sống kinh tế của nhân dân gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người 11 triệu đồng/người/ năm.

Tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 30%, cá biệt có xã tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 60%. Thu ngân sách trên địa bàn huyện chỉ đạt 55 đến 57 tỉ đồng/ năm do vậy không đảm bảo cho nguồn chi mà chủ yếu là dựa vào ngân sách cấp trên cấp. Về văn hóa - xã hội chưa được phát triển đồng bộ trên các mặt, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội có nơi có lúc chưa đáp ứng được yêu cầu. 32 Về Quốc phòng - an ninh: là huyện chậm phát triển nên kéo theo các hệ lụy về an ninh - trật tự, đời sống khó khăn dẫn đến nhiều vụ việc trộm cắp cướp giật gây bất ổn trong nhân dân.

Bên cạnh đó có những địa bàn xã do đặc thù của chế độ cũ trước năm 1975 để lại nên Quốc phòng -an ninh của huyện được xếp vào diện đáng chú ý trên địa bàn tỉnh Đắk Lăk. Quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Pắc giai đoạn 2015 – 2020 2. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới Huyện ủy Krông Pắc đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HU, ngày 1-4- 2015“về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến năm 2025”, chỉ đạo các tổ chức Đảng quán triệt đến cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn; tất cả 15 xã đã ban hành Nghị quyết của Đảng uỷ, chương trình, kế hoạch của UBND xã để triển khai thực hiện chương trình. Ngoài ra, Đảng ủy 15/15 xã tổ chức quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/HU ngày 16/4/2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về phấn đấu xây dựng huyện Krông Pắc đạt chuẩn huyện nông thôn mới vào năm 2020.

Năm 2019: Hội đồng nhân dân huyện ban hành Nghị quyết số 16/NQ-HĐND ngày 01/02/2019 về việc bổ sung cơ chế hỗ trợ các xã làm đường xóm và đường trục chính nội đồng trong Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới, giai đoạn 2019-20120; Huyện ủy ban hành Nghị quyết số 16-NQ/HU ngày 22 tháng 5 năm 2019 của ban thường vụ huyện ủy về phấn đấu xây dựng các xã Ea Knuếc, Krông Buk, Ea Uy đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019. Ủy ban nhân dân huyện ban hành Kế hoạch số số 100/KH-UBND ngày 19/6/2019 của Ủy ban nhân dân huyện về việc phấn đấu xây dựng xã Ea Knuếc, Krông Buk, Ea Uy thực hiện đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019. Phổ biến, tuyên truyền chính sách xây dựng nông thôn mới Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam huyện luôn quan tâm chỉ đạo các cấp các ngành, các tổ chức chính trị xã hội xác định công tác tuyên truyền, vận động trong xây dựng nông thôn mới là hết sức quan trọng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; thường xuyên vận động các thành viên, hội viên và nhân dân tham gia thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, gắn với nâng cao chất lượng của các cuộc vận động của các hội, đoàn thể như: Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới”, “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi”, “Nông dân Đắk Lắk chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Dân vận khéo”, “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Phụ nữ chung tay xây dựng nông thôn mới”, mô hình “5 không, 3 sạch”, “Lực lượng vũ trang chung sức xây dựng nông thôn mới”, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, chỉ đạo cơ quan chuyên môn cấp huyện tuyên truyền vận động nhân dân triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” … Năm 2015, đã tổ chức 18 lớp quán triệt, học tập tuyên truyền và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU của Tỉnh uỷ, Nghị quyết số 04-NQ/HU của Huyện uỷ về xây dựng nông thôn mới cho hơn 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ