mở đầu của bản báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam”, Trƣờng Chinh nêu rõ: “Chúng ta họp lại nơi đây, không ngoài mục đích định rõ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phƣơng châm hoạt động văn hóa, đoàn kết các nhà văn hóa nƣớc ta thành một mặt trận, động viên các lực lƣợng văn hóa nƣớc ta để dốc vào cuộc chiến đấu của dân tộc, để đuổi giặc, cứu nƣớc và xây dựng một nền văn hóa mới” [60, tr. Chủ tịch Mao Trạch Đông trong quan điểm lý luận văn hóa dân chủ mới ở Trung Quốc đã có những ý kiến biện chứng giữa phổ cập và nâng cao trong văn hóa. Nâng cao trên cơ sở phổ cập, phổ cập dƣới sự chỉ đạo của nâng cao. Bất kể phổ cập hay nâng cao đều là để phục vụ đại chúng công nông binh.
Sau này, trong thực tiễn của quá trình vận động văn hóa của Việt Nam, vấn đề giữa phổ cập và nâng cao đƣợc cụ thể hóa trong điều kiện Việt Nam đó chính là cuộc tranh luận giữ nghệ thuật và tuyên truyền. Phổ cập chính là tuyên truyền, mà nâng cao chính là nghệ thuật. Cuộc tranh luận này là vấn đề khúc mắc kéo dài khá lâu trong đấu tranh lý luận ở Việt Nam. Sau này cũng nhƣ Trung Quốc, Đảng ta trong “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” cũng chỉ rõ: “Tuyên truyền tới mức cao sẽ trở thành nghệ thuật, nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt tuyên truyền”.
Và “nếu nhà văn đó thiết thực và trung thành với thời đại thì tác phẩm của họ, nghệ thuật càng cao, càng có ý nghĩa tuyên truyền mạnh” [60, tr. Đƣợc chỉ đạo chặt chẽ bởi đƣờng lối văn nghệ kháng chiến, quan điểm nghệ thuật gắn liền với nhiệm vụ tuyên truyền, văn hóa gắn liền với nhiệm vụ chính trị trở thành xu thế phát triển chung của ý thức văn hóa thời đại ấy. Khi đời sống tinh thần chung của một dân tộc đều hƣớng về chiến đấu và chiến thắng, khẩu hiệu “yêu nƣớc và căm thù giặc” trở thành phƣơng châm hoạt động của nghệ sỹ thì quan điểm nghệ thuật gắn liền với tuyên truyền, văn hóa đi cùng với chính trị là phù hợp với quy luật vận động của lịch sử. Ở đây tính thực tế của văn hóa nghệ thuật đƣợc phát huy mạnh mẽ.
Muốn giải quyết vấn đề văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ công nông binh, văn hóa phải phản ánh đúng đắn cuộc sống của nhân dân. Vấn đề mấu chốt căn bản nhất là những ngƣời làm công tác văn nghệ phải gắn bó với quần chúng, cải tạo tƣ tƣởng, đồng thời tìm nguồn sáng tác trong việc gắn bó với quần chúng. Đó là một quan điểm trọng yếu trong tƣ tƣởng văn nghệ của Mao Trạch Đông. “Muốn cải 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo tƣ tƣởng cũ và xây dựng thế giới quan vô sản có hiệu quả, các văn nghệ sĩ chỉ cần hạ quyết tâm, thông qua việc học tập lý luận chủ nghĩa Mác trƣờng kỳ…lao mình vào cuộc đấu tranh cách mạng, hòa mình với quần chúng và kết hợp qua lại giữa lý luận và thực tế”.
“Những ngƣời công tác văn nghệ nhất định phải làm tròn nhiệm vụ đó, phải bỏ đầu óc tiểu tƣ sản đi, phải đi sâu vào công, nông, binh, vào phong trào đấu tranh thực tế, phải học tập chủ nghĩa Mác-Lê-nin và học tập xã hội, dần dần đi hẳn với công, nông, binh. Chỉ nhƣ thế, chúng ta mới có một nền văn nghệ công, nông, binh chân chính [53, tr. Đây là điểm xuất phát của chủ trƣơng chỉnh huấn, chỉnh phong nhằm cải tạo tƣ tƣởng, nâng cao lập trƣờng chính trị cho cán bộ và quần chúng, kể cả trong văn hóa, văn nghệ. Ở Việt Nam thời kỳ này, ảnh hƣởng của quan điểm này rất lớn.
Từ 1950, trong lĩnh vực giáo dục đã tiến hành cuộc vận động “rèn cán chỉnh cơ” rầm rộ. Từ năm 1952, trong văn học nghệ thuật, các văn nghệ sĩ trăn trở trong quá trình “nhận đƣờng” và “lột xác” để xác lập lập trƣờng chính trị của mình. Cùng với cán bộ, anh chị em văn hóa văn nghệ tham gia cuộc vận động chỉnh huấn. Đây là dịp mà các anh chị em nhìn lại ƣu điểm, khuyết điểm của chính mình, kiểm tra lại nhận thức của mình đối với cách mạng dân tộc dân chủ.
Từ đó năm 1954, anh chị em văn nghệ sĩ hăng hái hơn trong chiến đấu, và đặc biệt là hăng hái đi vào cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất, tìm hiểu sâu hơn đời sống nhân dân. Các đợt chỉnh huấn, chỉnh phong suốt trong thời kỳ từ 1950-1954 là một trong những biện pháp để nhằm giáo dục tƣ tƣởng, chỉnh đốn lập trƣờng cho không chỉ cán bộ, bộ đội mà còn dành cho cả các văn nghệ sĩ. Nhƣng ảnh hƣởng của việc coi trọng yếu tố “hồng” (yếu tố chính trị) hơn yếu tố “chuyên” (chuyên môn) trong sáng tác văn nghệ, lấy tính Đảng là yếu tố quy chuẩn chi phối quá trình sáng tạo văn học nghệ thuật cũng có những tác động trái chiều. Một trong những hạn chế của việc yếu tố chính trị chi phối sáng tạo nghệ thuật là vô hình chung trong nhiều trƣờng hợp, các văn nghệ sĩ tự đánh rơi đi “cái tôi” riêng của mình trong nghệ thuật.
Những cá tính sáng tạo riêng cũng đã bị yếu tố chính trị chi phối đi ít nhiều. Do đó, có những lúc chúng ta bắt gặp tâm trạng “băn khoăn”, lo âu của một số văn nghệ sĩ trên con đƣờng đi theo kháng chiến. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có một điều có thể nhận thấy trong văn hóa Việt Nam thời kỳ 1945-1954 là khi mà những nguyên tắc xây dựng nền văn hóa dân chủ mới chúng ta học tập từ Trung Quốc đƣợc đẩy lên thái quá thì trong một chừng mực nó sẽ mang tính hẹp hòi, giáo điều. Một số nhà văn thời kỳ bấy giờ nhƣ Nguyễn Thành Long cũng nhận ra rằng đó là những khuynh hƣớng “cực tả” của “văn nghệ Diên An” [113, tr.
Thực tế là những nguyên tắc mang tính “giai cấp” phần nào đó đã có những tác động tới quá trình nhận thức tƣ tƣởng cũng nhƣ quá trình sáng tác của các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ Việt Nam thời kỳ này. Trƣớc năm 1950, cuộc kháng chiến của chúng ta bị bao vây, cô lập. Do đó nền văn hóa kháng chiến cũng ít có khả năng ảnh hƣởng từ bên ngoài. Nhƣng từ năm 1950 trở đi, khi chúng ta phá đƣợc thế bao vây cô lập của Pháp sau chiến thắng Biên giới 1950, thì không khí của nền văn hóa thay đổi hẳn và bắt đầu có sự đón nhận những luồng gió mới thổi từ Trung Quốc, đặc biệt đó là những ảnh hƣởng của các nguyên tắc văn hóa dân chủ nhân dân.
Nền văn hóa bắt đầu có những sắc màu đa diện, phong phú. Các nhà văn hóa Việt Nam đã có những sự trăn trở để áp dụng những nguyên tắc đó phù hợp với bối cảnh cũng bản sắc truyền thống của văn hóa Việt Nam.Tuy nhiên, trong buổi đầu xây dựng, sự vận dụng khó tránh khỏi những biểu hiện ấu trĩ, ít nhiều ảnh hƣởng tới thành tựu của nền văn hóa kháng chiến. Tóm lại, trong bối cảnh của cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chúng ta bị bao vây cô lập từ nhiều phía, việc chúng ta vẫn hƣớng tới sự giúp đỡ và học tập những kinh nghiệm của các nƣớc anh em nhƣ Trung Quốc và Liên Xô vẫn đƣợc đặt ra và coi trọng. Chính vì vậy mà “việc khai thác vốn cũ dân tộc không thể tách rời với việc họp tập văn nghệ của nƣớc bạn, nhất là học tập kinh nghiệm về việc tổ chức sáng tác văn nghệ, về bản thân những sáng tác của Liên Xô, Trung Quốc.
Học tập văn nghệ các nƣớc bạn là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển văn nghệ Việt Nam. Nhiều băn khoăn của chúng ta, các nƣớc bạn đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc, đã đi đến những kết luận có thể giúp chúng ta giải quyết thích đáng. Nhiều mò mẫm của chúng ta hiện nay, chúng ta cũng có thể trong khi học tập các tài liệu của các nƣớc bạn, tìm ra ánh sáng để tránh nhiều vấp váp” [93, tr. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số nhân tố của bối cảnh trong nƣớc 1.Đời sống kháng chiến Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, trƣớc khi bƣớc vào cuộc kháng chiến, đất nƣớc ta đang đứng trƣớc muôn vàn khó khăn và bị chủ nghĩa đế quốc bao vây bốn phía. Thế nhƣng chúng ta có những tiền đề thuận lợi cho công cuộc xây dựng nƣớc nhà trong một kỷ nguyên độc lập. Quá trình xây dựng nền văn hóa mới của nƣớc nhà không vận động ngoài hoàn cảnh đó. Từ thân phận nô lệ trở thành công dân và ngƣời làm chủ của một nƣớc độc lập, tự do, đồng bào ta khắp từ Nam chí Bắc dâng trào niềm tự hào, phấn khởi.
Các giai cấp, các tầng lớp yêu nƣớc, nhân dân các dân tộc một lòng tin tƣởng vào Chính phủ cách mạng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên quyết bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám. Trƣớc những hành động xâm lƣợc và phá hoại của đế quốc và tay sai, nhân dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền ngƣợc đến miền xuôi càng thêm đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ Cụ Hồ, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh- mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi do Đảng lãnh đạo. Các Hội cứu quốc trong mặt trận nhƣ Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong, v. phát triển mạnh mẽ.
Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, nền tảng của mặt trận đƣợc phát triển và củng cố vững chắc. Đây thực sự là khối quần chúng cách mạng, khối đoàn kết toàn dân đƣợc tổ chức chặt chẽ, là lực lƣợng chính trị hùng hậu. Lực lƣợng chính trị hùng hậu ấy đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển lực lƣợng mọi mặt của cách mạng, là nền tảng để thực hiện vũ trang toàn dân, hình thành và phát triển lực lƣợng vũ trang nhân dân.
Đây cũng chính là cơ sở vững chắc nhất để xây dựng hậu phƣơng kháng chiến ở trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.