Chương I và Chương HÏ). Văn phòng Thương mại lành mạnh (OFT) có thẫm quyền khá lớn trong việc điều tra các doanh nghiệp được cho là vi phạm Luật và áp dụng các hình phạt đối với các doanh nghiệp này. Luật được sửa đổi ngày 01/05/2004, theo đó đã trao cho OFT quyền điều tra và áp dụng các hình phạt đối với các tổ chức/các nhân vi phạm các điều khoản cấm theo Điều §1 và Điều 82 của Hiệp ước EC. Tuy nhiên một điểm đáng lưu ý đối với pháp luật cạnh tranh của Anh là khi tiến hành xử lý, OFT không chỉ dựa trên Luật Cạnh tranh, mà còn tuân theo các quy định pháp luật có liên quan, chang hạn Luật Doanh nghiệp 2002 (có điều khoản quy định vi phạm cacten).
Theo đó, các cá nhân tham gia vào một trong các dạng thoả thuận phản cạnh tranh nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, khi Luật Doanh nghiệp 2002 được ban hành, nước Anh cũng đã tiễn hành sửa đổi Luật Truất quyền các nhà điều hành đoanh nghiệp. Các nhà điều hành doanh nghiệp khi vi phạm pháp luật cạnh tranh (các hành vi bị cắm theo Điều 81, Điều 81 Hiệp ước EC và của Luật Cạnh tranh) có thé phải nhận Lệnh truất quyền cạnh tranh. Lệnh này sẽ chấm dứt các hành vi có liên quan và buộc họ không được quản lý doanh nghiệp trong thời hạn tối đa là 15 năm.
Nhưng quan trọng hơn chính là những thay đổi của pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu. Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc đã được sửa đổi ngay từ năm 1999. Quy chế về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp cũng đã được sửa đổi bổ sung và có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2004. Các quy định hướng dẫn thi hành Điều 81 và các điều tiếp theo của Hiệp ước thành lập Cộng đồng Châu Âu đã được sửa đổi một cách toàn diện vào cuối năm 2002 và trong năm 2003.
Những sửa đổi này cũng bắt đầu có hiệu lực kế từ ngày 01/05/2004. Ở đây cần lưu ý: 20 điều khoản được hướng dẫn thi hành là Điều 81 chứ không còn là Điều 85, bởi sau khi Hiệp ước Amsterdam được ký kết, đã kéo theo sự thay đổi trong cách đánh số quen thuộc của các điều khoản. Đối với Úc, pháp luật cạnh tranh được quy định trong Luật Thực tiễn Thương mại năm 1974 và Luật Giám sát giá cả năm 1983. Mục đích của Luật Thực tiễn Thương mại (TPA) là nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của Úc thông qua việc thúc đây cạnh tranh và thương mại lành mạnh và bảo vệ người tiêu dung.
TPA liên quan đến hầu hết các vấn đề trên thị trường: mối quan hệ giữa nhà cung cấp, bán buôn, bán lẻ, các đối thủ cạnh tranh và khách hàng. Trên bình diện rộng, TPA giải quyết các vấn đề như các hành vi không lành mạnh trên thị trường, luật theo ngành, sáp nhập, an toàn sản phẩm, nhãn mác sản phẩm, giám sát giá cả và quy định của các ngành công nghiệp như viễn thông, khí đốt, điện và hàng không. Luật Cạnh tranh của Brazil gắn liền với bối cảnh lịch sử và chính sách kinh tế của Brazil. Như chúng ta đã biết, sau chiến tranh thế giới thứ hai chính sách kinh tế của Brazil dựa vào sự can thiệp rộng của Chính phủ đối với sự vận hành của thị trường.
Chính phủ kiểm soát giá ở nhiều ngành, hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp, vận tải, và tài chính lớn nhất đất nước hoặc là đoanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc độc quyền tư nhân bị áp đặt các chế tài công khai. Trong bối cảnh đó, năm 1962 Brazil đã ban hành Luật Cạnh tranh đầu tiên số hiệu 4137, luật đã thiết lập nên Hội đồng quản lý hành chính về an ninh kinh tế “CADE”' (Admistrative Council for Economic Defence). Nam 1988, cùng với một loạt thay đổi đáng kế về kinh tế ở Brazil, hiến pháp mới đã đưa vấn đề cạnh tranh vào trong các quy định pháp lý và coi cạnh tranh giống như một yếu tố chính để thiết lập nên “trật tự kinh tế”'. Chương trình tư nhân hoá đã được đề xuất, các rào cản trong thương mại quốc tế đã được cắt giảm và vai trò của CADE đã được tăng cường.
Một kỷ nguyên mới cho chính sách cạnh tranh ở Brazil đã bắt đầu từ năm 1994 và để ứng phó với giai đoạn lạm phát tăng nhanh, “kế hoạch thực tiễn"? (Real Plan) đã được thực thi trong năm này. Như một phần của chương trình cải cách, một Luật Cạnh tranh mới (Luật Chống độc quyền Số 8884) đã được ban hành trong năm 1994 với kỳ vọng có thể được ấp dụng để giải quyết vấn đề tăng giá. Luật Cạnh tranh mới này cũng điều chỉnh việc kiểm soát sáp nhập và đã có những thay đổi quan trọng trong quy định về tổ chức thực thi. CADE đã được thiết lập lại với vai trò là một cơ quan độc lập, / 21 một số vân đề về thâm quyền thực thi đã được trao cho hai cơ quan khác (sẽ được nói rõ ở phần sau).
Từ 1994 đến nay, hai văn bản pháp lý sửa đổi, bỗ sung luật cạnh tranh đã được ban hành. Vào tháng 01/1999 Luật số 9781 đã bổ sung quy định về phí đệ đơn sáp nhập và theo đó phí thu được sẽ được phân bé cho CADE. Tháng 12/2000 Luật 10149 cũng đã bổ sung thêm thấm quyền điều tra, làm rõ thủ tục đối với các tổ chức nước ngoài, xây dựng chương trình khoan dung, gia tăng mức phí đệ đơn sáp nhập và quy định sự phân chia cân xứng về phí này giữa ba cơ quan quản lý cạnh tranh. So với Mỹ, Úc, Canada và Brazil, Nam Phi ban hành luật cạnh tranh khá muộn, điều này đã giúp Nam phi hoàn thiện nhiều mặt trong các quy định về cạnh tranh của mình.
Luật Cạnh tranh Nam phi Số 89 được thông qua năm 1998, các Điều 1-3, 6,11,19-43,78,79 & 84 có hiệu lực từ ngày 30/11/1998. Các điều khoản còn lại có hiệu lực từ ngày 01/12/1999. Mục đích của luật là nhằm thúc đây và đuy trì cạnh tranh trên thị trường Nam Phi, bao gồm tính hiệu quả, thích ứng và phát triển kinh tế; tăng sự lựa chọn cho người tiêu đùng và với giá cả cạnh tranh; thúc đây vấn đề việc làm, gia tăng phúc lợi kinh tế và xã hội cho người dân; mở rộng cơ hội tham gia vào thị trường quốc tế và thừa nhận vai trò của cạnh tranh nước ngoài tại Nam phi; đảm bảo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội bình đẳng khi tham gia vào nền kinh tế; thúc đẩy mở rộng quyền sở hữu. Từ khi ban hành đến nay Luật đã qua nhiều lần sửa đổi, các lần sửa đổi có thể được chỉ ra như: Luật sửa đổi số 35 Năm 1999, có hiệu lực 01/12/1999; Luật sửa đổi số 15 Năm 2000, có hiệu lực 01/12/2000; Luật sửa đổi số 39 Năm 2000 (lần thứ 2), có hiệu lực 01/02/2001.
Vai trò và chức năng của chính sách cạnh tranh đối với nền kinh tế thị trường Chính sách cạnh tranh đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Cạnh tranh còn giúp cho các doanh nghiệp phát huy hết khả năng của mình bằng cách khuyến khích họ liên tục phấn đấu đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, dịch vụ và giá cả. Sức ép cạnh tranh sinh ra những sản phẩm mới vì các công ty áp dụng công nghệ mới và những biện pháp quản lý tiên tiến. Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển của kinh tế thị trường.
Có thể nói rằng không có cạnh tranh thì cũng không thể có nền kinh tế thị trường. Cùng với quy luật cung cầu và quy luật giá trị, cạnh tranh 22 trở thành một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên nếu chỉ với những tiền đề kinh tế như trên, cạnh tranh vẫn chưa thê có cơ hội nảy sinh và tồn tại trong đời sống kinh tế. Cạnh tranh chỉ có thê xuất hiện với tư cách là một sản phẩm của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền để pháp lý cụ thể, nghĩa là các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế phải được Nhà nước thừa nhận va bảo vệ quyền tự do, tự chủ trong kinh doanh, quyền sở hữu và tính đa đạng của các loại hình sở hữu cũng như địa vị bình đẳng trước pháp luật.
Do đó, xây dựng chính sách duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát sự độc quyền trong kinh doanh là việc làm cần thiết. Chính sách cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có những vai trò và chức năng cơ bản như sau: Thứ nhất, tạo nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc đây quá trình cạnh tranh tự do hay bảo vệ hoặc thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả. Luật cạnh tranh bảo vệ và khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh, hợp tác bình đẳng trong một khuôn khổ pháp luật chung, điều tiết mặt trái của cạnh tranh bằng cách kiểm soát quá trình dẫn đến vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền của doanh nghiệp, chống các hành vi gây cản trở cạnh tranh, cũng như thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường. Vì vậy, thách thức đặt ra đối với: doanh nghiệp đó là buộc doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh một cách văn minh hơn, bài bản hơn, và sẽ không có đất dung thân cho các doanh nghiệp làm ăn chụp giật.
Các doanh nghiệp lớn sẽ phải cần thận hơn trước khi đưa ra những quyết định quan trọng trong kinh doanh, bởi lẽ những quyết định của họ sẽ ảnh hưởng đáng kể tới thị trường và sẽ được giám sát chặt chẽ. Thứ hai, điều tiết quá trình cạnh tranh, hướng quá trình này phục vụ cho những mục tiêu đã được định sẵn, ví dụ như đạt hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đuy trì hệ thống doanh nghiệp ty do, duy trì sự công bằng, trung thực trong kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Thị trường hình thành từ mối quan hệ qua lại giữa người mua và người bán, hay rộng hơn là người sản xuất và người tiêu dùng dưới quy luật cung cầu và quy luật giá trị. Trong mối quan hệ này người tiêu đùng luôn ở vị trí trung tâm.
Người tiêu dùng và sức tiêu thụ của họ chính là thước đo giá trị chất lượng sản phẩm, là nguồn lợi nhuận cho người sản xuất. Họ có quyền lựa chọn hàng hoá cũng như người cung ứng hàng hoá và trả tiền cho sự lựa chọn đó.