mở đầu là ở một số tỉnh/thành như: Hà Nội, Hoà Bình, Lai Châu, Thái Bình, Bắc Giang, Lào Cai, Tiền Giang, Kon Tum và Vĩnh Phúc. Sau đó bằng nhiều dự án, các trung tâm HTCĐ nhanh chóng được xây dựng và phát triển trên nhiều tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước. Đến năm 2007, sau gần 10 năm, cả nước đã có hơn 7000 trung tâm HTCĐ được thành lập, chiếm 2/3 tổng số xã, phường, thị trấn trên toàn quốc. Đặc biệt, đến tháng 8/2008 cả nước có 9.010 trung tâm HTCĐ chiếm 81,93% tổng số xã, phường, thị trấn.
Tuy nhiên, vì là mô hình giáo dục mới nên hầu hết các trung tâm HTCĐ còn nhiều bất cập cả về quản lý nhà nước, cơ sở vật chất và về chương trình nội dung hoạt động. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhiều lần đưa ra dự thảo quy chế hoạt động cho các trung tâm HTCĐ, nhưng Quy chế tổ chức và hoạt động cho các trung tâm 6 HTCĐ mới được ban hành vµo th¸ng 4 n¨m 2008. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho quá trình triển khai hoạt động của loại hình giáo dục mới này trong gần 10 năm qua. Thực tế ở Thái Nguyên trong quá trình xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng Thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 24 tháng 8 năm 1999 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội Khuyến học Việt Nam; Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, trong những năm qua các cấp uỷ đảng, chính quyền trong toàn tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, động viên nhân dân tham gia học tập.
Đến nay, 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã xây dựng được Trung tâm học tập cộng đồng (180 trung tâm/180 xã, phường, thị trấn), hoạt động bước đầu của các trung tâm này đã mang lại hiệu quả thiết thực. Việc phát huy vai trò của các lực lượng xã hội tham gia khuyến học, khuyến tài, thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục ngày càng hiệu quả thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Tuy nhiên, công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn tỉnh còn một số hạn chế, yếu kém. Nhận thức của một số cấp uỷ Đảng, Chính quyền và nhân dân về sự cần thiết và tầm quan trọng của công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ mới chưa đầy đủ; phong trào phát triển rộng nhưng hiệu quả không đồng đều; cán bộ chuyên trách ở cấp huyện và cơ sở thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu.
Bên cạnh đó, các trung tâm này cũng như rất nhiều trung tâm học tập cộng đồng khác trên cả nước còn thiếu hoặc chưa có mô hình tổ chức hoạt động nói 7 chung và mô hình về giáo dục môi trường/giáo dục vì phát triển bền vững nói riêng. Vì vậy, việc tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; phát triển nhiều loại hình học tập đa dạng, phù hợp với điều kiện và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân từng địa phương, đơn vị trong tỉnh. Tích cực vận động nhân dân học tập nâng cao trình độ về mọi mặt; gắn việc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập với phong trào làm kinh tế giỏi, xoá đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đang là vấn đề đặt ra đối với các cấp chính quyền và các ban ngành của tỉnh Thái Nguyên. Quan điểm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ giáo dục với loại hình giáo dục mới này Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ giáo dục là một cơ quan nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, nay thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam luôn có định hướng đi trước, đón đầu nhằm tích cực góp phần vào sự phát triển của sự nghiệp giáo dục nước nhà trong xu thế toàn cầu hoá.
Sau 30 năm xây dựng và phát triển, bằng phương pháp thực nghiệm, Trung tâm đã đạt được một số thành tựu nghiên cứu khoa học, đặc biệt là ở cấp Tiểu học. Trung tâm đã chuyển giao các thành tựu nghiên cứu của mình về 43 tỉnh/ thành phố trên phạm vi cả nước, đồng thời cũng đã dành sự quan tâm thích đáng tới chất lượng giáo dục ở các vùng khó khăn, nhất là vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trong quá trình đó, Trung tâm đã quan tâm tới chương trình hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, hiểu được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai nhiệm vụ của loại hình giáo dục mới này. Trên cơ sở đó, Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ giáo dục quyết định xây dựng hướng nghiên cứu khoa học nhằm tháo gỡ 8 những khó khăn, bất cập, phát huy thế mạnh sẵn có nhằm hỗ trợ cho các trung tâm học tập cộng đồng tổ chức hoạt động hiệu quả hơn.
Chính vì vậy, được sự phê duyệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Công nghệ giáo dục đã chọn nghiên cứu đề tài Xây dựng mô hình tổ chức hoạt động về Giáo dục môi trường/ Giáo dục vì phát triển bền vững cho trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Thái Nguyên nhằm hỗ trợ các trung tâm này cả nội dung và phương pháp để phát huy hiệu quả phục vụ cộng đồng. MỤC TIÊU Đề tài hướng tới 2 mục tiêu: - Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng mô hình tổ chức hoạt động về giáo dục nhận thức môi trường, bảo vệ môi trường vµ xo¸ mï ch÷, chèng t¸i mï cho 3 đối tượng dân cư (Người cao tuổi; Phụ nữ và Thanh thiếu niên) sinh hoạt tại Trung tâm Học tập cộng đồng. - Nghiên cứu để hỗ trợ ngành Giáo dục và Đào tạo cùng chính quyền các cấp thuộc tỉnh Thái Nguyên về phương pháp chỉ đạo hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng phục vụ nhu cầu học tập của nhân dân, góp phần xây dựng xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy xã hội phát triển đồng bộ. CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.
Cách tiếp cận Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các cách tiếp cận sau: 9 - Cách tiếp cận tổng hợp: Nghiên cứu cả trên hai bình diện lý luận và thực tiễn tổ chức hoạt động của các trung tâm HTCĐ trên thế giới, ở Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên; - Cách tiếp cận hệ thống: Xem xét mô hình tổ chức hoạt động về GDMT/ GDPTBV trong hệ thống các hoạt động khác của trung tâm HTCĐ. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, các thành viên đã lựa chọn những phương pháp nghiên cứu như sau: 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu và phân tích các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật của Đảng, Chính phủ và Ngành GD&ĐT; các tài liệu và kết quả nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Phương pháp điều tra thực tiễn: Tổ chức khảo sát, điều tra theo các định hướng sau: 2.
Thực trạng hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng trong phạm vi cả nước và hai trung tâm học tập cộng đồng thuộc tỉnh Thái Nguyên. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu tiếp nhận hoạt động của cộng đồng dân cư sinh hoạt tại hai trung tâm học tập cộng đồng thí điểm. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm về mô hình tổ chức hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng một số nước trên thế giới trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương và Việt Nam. Phương pháp thực nghiệm: Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp này để triển khai 3 công việc lớn sau: 10 4.
Đề xuất mô hình tổ chức hoạt động GDMT/GDVPTBV và tiến hành thiết kế các mô đun mẫu hướng dẫn hoạt động GDMT/GDVPTBV cho 3 đối tượng dân cư sinh hoạt tại trung tâm học tập cộng đồng (Người cao tuổi; Phụ nữ và Thanh thiếu niên). Tổ chức thực hiện một số mô đun tại hai trung tâm học tập cộng đồng Sông Cầu và La Hiên với 3 đối tượng lựa chọn. Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm. Phương pháp phân tích thống kê: Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp này để sử lý số liệu điều tra khảo sát nhằm đưa ra được những minh chứng khoa học cho nội dung nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là 2 trung tâm học tập cộng đồng thí điểm thuộc tỉnh Thái Nguyên: - Trung tâm học tập cộng đồng La Hiên, huyện Võ Nhai. - Trung tâm học tập cộng đồng Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4. Xác định cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình tổ chức hoạt động GDMT/GDVPTBV cho trung tâm HTCĐ tỉnh Thái Nguyên.
Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của hai trung tâm HTCĐ thuộc tỉnh Thái Nguyên và nhu cầu của cộng đồng về mô hình tổ chức hoạt động GDMT/GDVPTBV. Đề xuất định hướng xây dựng mô hình hoạt động GDMT/GDVPTBV cho trung tâm HTCĐ và tổ chức thực nghiệm. SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU Đề tài có những sản phẩm nghiên cứu dưới dạng văn bản sau: 1.Kỷ yếu Hội thảo khoa học, 02 báo cáo của đề tài được đăng trên Kỷ yếu khoa học của Trung tâm Công nghệ giáo dục và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Thái Nguyên.Hệ thống các mô đun GDMT/GDVPTBV cho trung tâm HTCĐ (phụ lục 1); Một số sản phẩm của chiến dịch thi viết, vẽ, sưu tầm sáng tác tranh ảnh có nội dung giáo dục môi trường của hai trung tâm học tập cộng đồng (phụ lục 2). Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI VÀ ĐỊA CHỈ ỨNG DỤNG - Đề tài đã làm rõ một số vấn đề thuộc về cơ sở lý luận cho việc xây dựng mô hình tổ chức hoạt động về GDMT/GDVPTBV cho trung tâm học tập cộng đồng, một loại hình giáo dục mới ở Việt Nam; - Đề tài đã làm sáng tỏ thực tế hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, nhu cầu tiếp nhận của cộng đồng dân cư và đề xuất được một mô hình hoạt động phù hợp; - Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể trao đổi và áp dụng trước hết cho trung tâm học tập cộng đồng của tỉnh Thái Nguyên và các trung tâm học tập cộng đồng khác trong cả nước.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I.Một số thuật ngữ, khái niệm công cụ 1.