CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1. Lược sử phát triển của kế toán trách nhiệm : KTTN là một cách thức tổ chức phục vụ cho công tác kế toán quản trị vì vậy KTTN được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị. Trên thế giới Vào những năm 1950, ở Mỹ, KTTN được đề cập đầu tiên, sau đó lan rộng sang các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Anh, Úc, Canada.
Đến nay, KTTN được các nhà khoa học, nhìn nhận khai thác ở các khía cạnh khác nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên một cái nhìn toàn diện về kế toán trách nhiệm. Tại Việt Nam: Những năm đầu 1990, Lý thuyết kế toán quản trị trong đó c ó nội dung KTTN mới được đưa vào giảng dạy với nội dung đánh giá trách nhiệm quản lý tại Trường đại học kinh tế TP. Sau đó, kế toán quản trị tại Việt Nam diễn tiến như phụ lục 1. Luật kế toán ra đời ngày 17/3/2003 nhưng mãi đến ngày 30/3/2006 chế độ kế toán dành cho hành chính sự nghiệp mới được ban hành và đến 12/6/2006 mới có thông tư hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị mà chỉ dành cho doanh nghiệp.
Cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn kế toán quản trị dành cho hành chính sự nghiệp. Thực tiễn kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam tương đương với kế toán quản trị ở những nước kinh tế thị trường phát triển những năm 1965. KTTN được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, ứng dụng vào môi trường doanh nghiệp, các công ty lớn hoạt động đa lĩnh vực, đa ngành nghề và quy mô hoạt động lớn. Gần đây, KTTN mới được quan tâm nghiên cứu vận dụng trong môi trường giáo dục.
Định nghĩa kế toán trách nhiệm: KTTN là một hệ thống kế toán dùng để thu thập thông tin, tổng hợp thông tin và lập báo cáo trách nhiệm của từng bộ phận thuộc phạm vi các cá nhân nhà quản lý phụ trách; là một hệ thống kế toán dùng để theo dõi chi chí, doanh thu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 và phân tích hoạt động từng đơn vị của tổ chức hoặc từng mảng trách nhiệm thuộc cá nhân phụ trách; là hệ thống đo lường các kế hoạch, ngân sách, hoạt động, và kết quả thực tế của mỗi trung tâm trách nhiệm. Hệ thống này nhằm cung cấp thông tin để nhà quản lý các cấp ra quyết định trong phạm vi trách nhiệm được giao, cung cấp thông tin để các nhà quản lý đánh giá các khoản mục doanh thu, chi phí mà các nhà quản lý này là người kiểm soát chính. Các báo cáo trách nhiệm chỉ báo cáo những khoản mục thuộc trách nhiệm cá nhân nhà quản lý có thể kiểm soát. Tuy nhiên cũng có báo cáo trách nhiệm có cả những khoản mục mà nhà quản lý không kiểm soát.
Trong trường hợp báo cáo trách nhiệm có các khoản mục do nhà quản lý kiểm soát và không kiểm soát thì cũng được phân định rõ ràng. Việc xác định các khoản mục kiểm soát là nhiệm vụ cơ bản trong KTTN và báo cáo kế toán trách nhiệm. Phân cấp quản lý và vai trò của kế toán trách nhiệm 1. Phân cấp quản lý Phân cấp quản lý là việc phân định phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của nhà quản lý các cấp trong một tổ chức để cùng nhau thực thi các chức năng nhiệm vụ được giao nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức.
Mục tiêu của phân cấp quản lý là làm rõ quyền và trách nhiệm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhà quản lý các cấp, góp phần nâng cao hiệu sử dụng các nguồn lực trong tổ chức. KTTN chỉ vận dụng được trong tổ chức có sự ủy quyền, có sự phân cấp quản lý. Nhà quản lý các cấp được phân công và giao trách nhiệm, phạm vi quản lý cụ thể. Khi đó, các trung tâm trách nhiệm trong KTTN mới được hình thành theo sơ đồ cơ cấu tổ chức để thực thi kế toán trách nhiệm.
Việc phân quyền quản lý có thể là quản lý một hoạt động hoặc một bộ phận, bộ phận có thể được phân theo chức năng hoặc theo sản phẩm. Phân theo chức năng: Đối với trường học đó là các phòng đào tạo, phòng tổ chức hành chính, phòng kế hoạch tài chính, phòng quản trị thiết bị,.Phân theo sản phẩm: Đối với trường học đó là các khoa đào tạo, các ngành đào tạo, tổ bộ môn. Nhà quản lý phải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 xác định phạm vi, lĩnh vực mà họ chịu trách nhiệm, hoạt động mà họ kiểm soát một cách rõ ràng. Phân cấp quản lý là cơ sở của kế toán trách nhiệm, do đó hiểu rõ cấu trúc tổ chức và quy mô hoạt động của tổ chức là điều kiện để xây dựng KTTN thành công.
Vai trò của KTTN trong tổ chức có phân cấp quản lý KTTN là một phương thức tổ chức thực hiện kế toán quản trị vì vậy nó cũng thực hiện các chức năng quản lý (Lập kế hoạch và dự toán, Tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá, và ra quyết định) như kế toán quản trị. KTTN là một phương pháp phân khúc một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường kết quả hoạt động của nó và giúp người đứng đầu tổ chức kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản lý của từng nhà quản lý các cấp khác nhau. KTTN thể hiện các vai trò như sau: Một là, KTTN cung cấp thông tin hai chiều từ lập kế hoạch, dự toán ngân sách, thực hiện hoạt động, và kết quả thực tế từ nhà quản lý cấp thấp đến cấp cao và ngược lại. Hai là, KTTN giúp người đứng đầu tổ chức xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận, từng lĩnh vực, từng ngành hàng vào lợi ích của toàn bộ tổ chức.
Ba là, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý được ủy quyền trong phạm vi ủy quyền. Bốn là, KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của nhà quản lý các cấp. Điều này sẽ ảnh hưởng tích cực đến cách thức thực hiện hành vi của nhà quản lý các cấp. Năm là, KTTN thúc đẩy nhà quản lý các cấp điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nội dung của kế toán trách nhiệm 1. Xác định các trung tâm trách nhiệm : KTTN được hình thành để đáp ứng nhu cầu đánh giá trung tâm trách nhiệm, mà các trung tâm trách nhiệm được hình thành trên cơ sở phân quyền quản lý. Theo quan điểm của hệ thống kế toán trách nhiệm, mọi bộ phận trong tổ chức có quyền kiểm soát đối với chi phí, hoặc doanh thu, hoặc lợi nhuận, hoặc vốn đầu tư được gọi là một trung tâm trách nhiệm.
Cơ sở để xác định một bộ phận là trung tâm gì dựa trên quyền và trách nhiệm mà nhà quản lý đó được giao. Một trung tâm trách nhiệm được xác định xử lý một công việc cụ thể. Nó sử dụng các đầu vào là các giá trị vật chất như nguyên vật liệu, số giờ công của các loại lao động và các dịch vụ khác kèm theo. để có được đầu ra là các hàng hóa, dịch vụ.
Hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bởi trung tâm trách nhiệm này có thể là đầu vào của một trung tâm khác trong cùng tổ chức và cũng có thể được bán ra bên ngoài.1: Mô tả hoạt động của một trung tâm trách nhiệm Đầu vào Đầu ra CÔNG VIỆC Các nguồn lực sử dụng Hàng hoá hoặc dịch vụ được đo lường bởi chi phí Căn cứ vào sự khác biệt trong việc lượng hóa giữa “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm cũng như mức độ trách nhiệm của người quản trị trung tâm, có thể chia thành 4 loại trung tâm trách nhiệm đó là: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư. Trung tâm chi phí Trung tâm chi phí là một trung tâm trách nhiệm chỉ chịu trách nhiệm về các khoản mục chi phí mà không chịu trách nhiệm về doanh thu - nguồn thu có từ việc cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ. Người quản lý chỉ có quyền kiểm soát chi phí phát sinh tại trung tâm. Một trung tâm chi phí là một trung tâm trách nhiệm, trong đó có yếu tố đầu vào, nhưng không có kết quả đầu ra, được đo bằng tiền tệ.
Trong một trung tâm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 chi phí, hệ thống kế toán chỉ ghi lại dữ liệu chi phí (đầu vào) phát sinh tại trung tâm trong khi các dữ liệu doanh thu (đầu ra) bị loại trừ. Nó đo lường hoạt động tài chính về chi phí mà tự nó phát sinh. Nói cách khác, việc thực hiện đánh giá tại một trung tâm chi phí là việc đo lường hiệu quả hoạt động trong trung tâm đó về số lượng đầu vào được sử dụng để sản xuất một số lượng nhất định đầu ra. Sự chênh lệch giữa thực tế và dự toán cho thấy mức độ hiệu quả của bộ phận.
Một điểm lưu ý trong việc đánh giá trách nhiệm ở trung tâm chi phí là khả năng kiểm soát. Khả năng kiểm soát là khái niệm quan trọng trong một hệ thống kế toán trách nhiệm. Một trung tâm trách nhiệm chỉ được đánh giá dựa trên các yếu tố có thể kiểm soát. Sẽ là không hợp lý nếu bắt nhà quản lý chịu trách nhiệm về các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của họ.
Vì vậy, cần thiết phải xác định các chi phí có thể kiểm soát và chi phí mà không kiểm soát được. Một chi phí được coi là kiểm soát chỉ khi chi phí này bị ảnh hưởng bởi hoạt động của nhà quản lý bộ phận. Chi phí mà không thể bị ảnh hưởng được gọi là chi phí không kiểm soát được. Như vậy, trung tâm chi phí là cơ sở của hệ thống xác định chi phí có thể kiểm soát, là tiền đề cho các hoạt động sau: lập dự toán chi phí, xác định chi phí thực tế phát sinh và so sánh chi phí thực tế với dự toán chi phí.
Trung tâm này thường gắn liền với các hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc gián tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh như các phân xưởng, phòng ban chức năng… Theo đó, nhà quản lý bộ phận chỉ chịu trách nhiệm về những chi phí có thể kiểm soát, không chịu trách nhiệm đối với doanh thu và vốn đầu tư.