Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ Chương 2: Thực trạng đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ và kinh nghiệm quốc tế Chương 3: Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ 1. TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Trong bất kỳ thời đại nào hay ở bất kỳ quốc gia nào, chất lượng giáo dục luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Đất nước thịnh hay suy, yếu hay mạnh, phụ thuộc phần lớn vào chất lượng sản phẩm của giáo dục.
Đối với các trường ĐH cũng như các cơ sở đào tạo hiện nay, phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo luôn được xem là nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất. Chính vì vậy, chất lượng GD nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước. * Ở nước ngoài, về mặt lý luận, đã có nhiều tác giả đề cập tới khái niệm chất lượng, chất lượng GDĐH, ĐBCL, hệ thống ĐBCL. Chất lượng là khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, và cách hiểu người này khác cách hiểu người kia.
Chất lượng được định nghĩa như một quá trình thanh tra mà ở đó mỗi một sản phẩm, hay một mẫu sản phẩm, được kiểm soát [142, tr. Định nghĩa khác, coi chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu [132, tr. Ngoài ra, chất lượng còn được hiểu theo nghĩa tương đối và nghĩa tuyệt đối. Trong đó, khái niệm chất lượng dùng trong cuộc sống hàng ngày thường 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang ý nghĩa tuyệt đối, đề cập đến những thứ tuyệt hảo, hoàn mỹ.
Chất lượng hiểu theo nghĩa này chính là chất lượng cao, hay chất lượng cao nhất. Ngược lại, quan niệm chất lượng theo nghĩa tương đối không xem chất lượng là thuộc tính của đồ vật hoặc dịch vụ mà là cái người ta gắn cho nó. Chất lượng không được coi là cái đích mà nó được coi là phương tiện, theo đó sản phẩm hoặc dịch vụ được đánh giá [143]. Đối với chất lượng trong GDĐH, các nhà nghiên cứu phân ra ba trường phái lý thuyết: Lý thuyết về sự khan hiếm; lý thuyết về sự gia tăng giá trị và lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu [dẫn theo 79, tr.
Trước tiên, trường phái lý thuyết về sự khan hiếm chứng minh chất lượng tuân thủ theo quy luật hình chóp. Chất lượng chỉ có ở số lượng sản phẩm rất hạn chế và nó phụ thuộc vào: Chi phí, nguồn lực; quy mô của trường ĐH; sự tuyển chọn; sự công nhận trong phạm vi toàn quốc. Lý thuyết về sự gia tăng giá trị với Astin (1985) là đại diện cho rằng các trường ĐH có chất lượng cao tập trung vào làm tăng sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của SV từ khi nhập trường đến khi ra trường. Đại diện của trường phái lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu Bogue và Saunders (1992) cho rằng "Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mạng và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai".
Đồng quan điểm này, Green (1994) trong định nghĩa trường ĐH chất lượng cao là "nơi tuyên bố sứ mệnh và mục tiêu đã chứa đựng ý nghĩa chất lượng và được thực hiện một cách có kết quả và hiệu quả". Trong ba trường phái lý thuyết vừa nêu trên thì trường phái lý thuyết về về sứ mệnh và mục tiêu có rất nhiều ưu điểm và được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luis Eduarda Gonzalez vào năm 1998 đã đưa ra mô hình kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục trong các trường ĐH. Trong mô hình này, chất lượng được xem như một hệ thống gồm các khía cạnh gắn kết với nhau: Sự phù hợp; hiệu quả; nguồn lực; hiệu suất; sự công hiệu.
và quá trình. Các khía cạnh này lại được xem xét trong tất cả các lĩnh vực của giáo dục: Sự phát triển học vấn nền tảng; chức năng dạy học; nghiên cứu và sáng tạo tri thức; dịch vụ và quản lý. Trong hai thập kỷ vừa qua, có nhiều thuyết ĐBCL GDĐH bắt đầu xuất hiện ở châu Âu và một vài thuyết trong số đó đã trở thành nổi tiếng trên thế giới. Trước đây, mô hình kiểm soát chất lượng thường được sử dụng để kiểm tra chất lượng và mô hình này có nguồn gốc từ sản xuất hàng hóa.
Lý thuyết chủ đạo của hệ thống ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào GD. Hiện nay, các lý thuyết có liên quan đến ĐBCL như Tiêu chuẩn hóa quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO) xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã được đưa vào GD, đặc biệt là GDĐH. ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng được hình thành từ năm 1955 và được soát xét nhiều lần. Đến nay, bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được chính thức ban hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2000, bao gồm 4 tiêu chuẩn cốt lõi với mục đích là đảm bảo cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ không những đáp ứng được những nhu cầu đã đề ra mà còn cao hơn nữa là thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng trong tương lai.
Hiện nay, một vài phiên bản của các mô hình ĐBCL đã xuất hiện như Giải thưởng chất lượng quốc gia Baldrige ở Hoa kỳ, các giải thưởng chất lượng ở Châu Âu hoặc một số nước khác như Giải thưởng chất lượng Deming (Nhật Bản); Giải thưởng chất lượng Hàn Quốc; Giải thưởng chất lượng 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Singapore; Giải thưởng chất lượng Philippines; Giải thưởng chất lượng Quốc tế châu Á - Thái Bình Dương., đặc biệt có một số đã được áp dụng vào GD. Trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng GDĐH không đơn thuần là vấn đề của riêng một quốc gia mà có tính khu vực và quốc tế. Ngày 19 tháng 6 năm 1999, các Bộ trưởng Bộ Giáo dục của 29 quốc gia châu Âu đã họp tại Bologna (Ý) để ký Tuyên ngôn Bologna về tương lai GDĐH tại Châu Âu, khởi đầu cho một quá trình cải cách rộng lớn và quan trọng trong lĩnh vực GDĐH. Mục tiêu của các quốc gia này là làm thế nào đến 2010 thành lập được không gian GDĐH châu Âu trong đó GV, SV và những học viên đã tốt nghiệp có thể di chuyển dễ dàng từ nơi này sang nơi khác trong cộng đồng.
Điều này có nghĩa là quá trình và chất lượng đào tạo của họ phải được các quốc gia châu Âu công nhận. Trong các thập kỉ gần đây, các thay đổi chính đã diễn ra trong GDĐH phương Tây với tốc độ không thể lường trước được. Các phong trào phát triển này đã đem lại sự thay đổi trong phương pháp dạy và học cũng như trong việc kiểm tra chất lượng các khóa học. Chất lượng, khi xảy ra các thay đổi này, được xem là các vấn đề nổi bật ở các trường ĐH châu Âu.
Các trường ĐH đã cố gắng xây dựng các cơ chế ĐBCL. Có nhiều lí do khác giải thích cho khuynh hướng này, bao gồm cả các nhu cầu sau đây: - Chứng minh cho công chúng và Chính phủ rằng các trường ĐH có thể cung cấp một nền giáo dục cao; - Đảm bảo rằng chất lượng là xứng đáng với các kinh phí nhận được từ Chính phủ và các nhà hưởng lợi và SV là đối tượng chủ yếu; - Thu hút cả SV địa phương và SV quốc tế; - Cải tiến hình ảnh của các trường ĐH; 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tham gia vào khuynh hướng thị trường hóa GDĐH. Về mặt thực tiễn, trên thế giới hiện nay có nhiều tổ chức tham gia công tác KĐCL và ĐBCL GDĐH như: Tổ chức Mạng lưới đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE - Internatioanl Network of Quality Assurance in Hingher Education), Hiệp hội chất lượng các trường đại học Úc (AUQA - The Australian Universities Quality Agency), Hội đồng kiểm định giáo dục đại học (CHEA - Council for Higher Education Accreditation), UNESCO, SEAMEO, Hội liên hiệp châu Âu về đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học (ENQA), Mạng lưới Đảm bảo chất lượng ASEAN (AUN - ASEAN University Network), Mạng lưới Chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQN - The Asia - Pacific Quality Network). Trong các tổ chức kể trên, hai ĐHQG của Việt Nam là: ĐHQG Hà Nội và ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh là thành viên tích cực của Mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN.
Mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN được thành lập vào năm 1998 và ở cuộc họp lần thứ 16 vào tháng 11 - 2004 tại Campuchia, Hội đồng Quản trị AUN đã thông qua tài liệu “Hướng dẫn AUN - QA” được xem là một cẩm nang và tài liệu tham chiếu cho phong trào ĐBCL trong ASEAN [dẫn theo 49, tr. Trong tài liệu này đã đề cập đến các khái niệm về chất lượng, chất lượng trong GDĐH; ĐBCL; tự đánh giá của hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH; tự đánh giá ở cấp độ chương trình và cấp độ nhà trường cũng như đề cập đến các tiêu chí chất lượng [117]. Các vấn đề về ĐBCL GDĐH nói chung, hệ thống ĐBCL trường ĐH nói riêng được đề cập đến trong hầu hết các tài liệu của các tổ chức kiểm định chất lượng hoặc đảm bảo chất lượng trên thế giới: [117]; [118]; [127]; [136]. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề cập đến hệ thống ĐBCL cấp quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tác giả Len M.
trong bài viết “Đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học khu vực châu Á - Thái Bình Dương” cho rằng hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểm định [139, tr.