Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phần este, lipit và cacbohidrat, hóa học lớp 12 nâng cao nhằm nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh trung học phổ thông. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lý luận về trắc nghiệm khách quan(TNKQ) 1. Khái niệm trắc nghiệm khách quan [12, tr. 5] Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) đã có lịch sử phát triển từ lâu ở các nước phát triển trên thế giới. Hiện nay TNKQ đã được đưa vào sử dụng trong kì thi tuyển sinh đại học ở nước ta ở một số bộ môn: Vật lý, Hóa học, Sinh học và Ngoại ngữ.
Vậy trắc nghiệm là gì? Theo nghĩa chữ Hán “trắc” là đo, “nghiệm” là suy xét, chứng thực. Ngày nay trắc nghiệm được hiểu là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực trí tuệ (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kĩ năng của học sinh thuộc một chương trình nhất định. Ưu điểm và nhược điểm của TNKQ * Ưu điểm + Trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức. + Nội dung kiến thức kiểm tra "rộng" có tác dụng chống lại khuynh hướng học tủ, học lệch.
+ Số lượng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở tin cậy, đủ cơ sở để đánh giá chính xác trình độ của HS thông qua kiểm tra. + Tuy việc biên soạn câu hỏi tốn thời gian, song việc chấm bài nhanh chóng và chính xác. Ngoài ra có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật để chấm bài. + Gây hứng thú và tích cực học tập cho HS.
+ Giúp HS phát triển kĩ năng nhận biết, hiểu, ứng dụng và phân tích. + Với phạm vi bao quát rộng của bài kiểm tra, HS không thể chuẩn bị tài liệu để quay cóp. Việc áp dụng công nghệ mới vào việc soạn thảo các đề thi cũng hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đổi bài. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Nhược điểm + Phương pháp TNKQ hạn chế việc đánh giá năng lực diễn đạt viết hoặc nói, năng lực sáng tạo, khả năng lập luận, không luyện tập cho HS cách hành văn, cách trình bày, không đánh giá được tư tưởng, nhiệt tình thái độ của HS.
+ Có yếu tố ngẫu nhiên, may rủi. + Việc soạn câu hỏi đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. + Tốn kém trong việc soạn thảo, in ấn đề kiểm tra và HS cũng mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi. Phân loại câu hỏi TNKQ và ưu, nhược điểm của từng loại câu hỏi.
Loại đúng - sai hoặc có – không Loại này gồm 2 phần, phần câu dẫn là một câu có nội dung cần phải xác định đúng hay sai và phần trả lời gồm chữ Đ hoặc S phải khoanh tròn khi xác định. Hoặc chúng có thể là những câu hỏi trực tiếp để được trả lời là có hay không. * Ưu điểm: Loại câu này rất thông dụng vì loại câu hỏi này thích hợp với những kiến thức sự kiện hoặc khái niệm, có thể kiểm tra nhiều kiến thức trong một thời gian ngắn. Giáo viên có thể soạn một đề thi trong thời gian ngắn.
* Nhược điểm: Loại câu này là khó xác định điểm yếu của HS do yếu tố đoán mò xác suất 50%, có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho HS học thuộc long hơn là hiểu. HS giỏi có thể không thỏa mãn khi buộc phải chọn đúng hoặc sai khi câu trắc nghiệm viết chưa kĩ càng. Loại ghép đôi Là những câu hỏi có hai phần, phần câu dẫn ở cột I gồm một phần của câu (câu chưa hoàn thành) hay một yêu cầu. và phần trả lời ử cột II gồm phần còn lại của câu hoặc một đáp án mà ta phải chọn để ghép ở phần cột I cho phù hợp.
* Ưu điểm: Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thích hợp với tuổi HS THCS hơn. Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau. Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Nhược điểm: không thích hợp cho việc đánh giá các khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức.
Muốn soạn loại câu hỏi này để đo mức độ trí năng cao đòi hỏi nhiều công phu. Ngoài ra, nếu danh sách mỗi cột dài thì tốn nhiều thời gian cho HS đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi. Loại điền khuyết Là những câu hỏi gồm hai phần, phần câu dẫn là những câu hay những phương trình hóa học… có những chỗ còn trống và phần trả lời là những từ, những cụm từ những công thức hóa học… phải lựa chọn để điền vào chỗ trống cho phù hợp. * Ưu điểm: làm mất khả năng đoán mò của thí sinh, họ có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường phát huy óc sáng tạo, giáo viên dễ soạn câu hỏi thích hợp với các môn tự nhiên, có thể đánh giá mức hiểu biết về nguyên lý, giải thích các sự kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ của mình đối với vấn đề.
* Nhược điểm: việc chấm bài mất nhiều thời gian 1. Loại nhiều lựa chọn Đây là loại câu trắc nghiệm có ưu điểm hơn cả và được dùng thông dụng nhất. Gồm hai phần, phần câu dẫn là một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn thành và phần trả lời gồm 4 hoặc 5 phương án, phải chọn phương án đúng (hay đúng nhất, đầy đủ nhất) * Ưu điểm - Giáo viên có thể dùng loại câu này để kiểm tra đánh giá những mục tiêu giảng dạy, học tập khác nhau như: + Xác định mối tương quan nhân quả. + Nhận biết các điều sai lầm.
+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau. + Định nghĩa các thành ngữ. + Tìm nguyên nhân của một số sự kiện. + Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật.
+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ các sự kiện. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật. + Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm. - Độ tin cậy cao hơn: Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều so với các loại TNKQ khác khi số phương án chọn lựa tăng lên.
- HS buộc phải xét đoán, phân biệt kỹ càng trước khi trả lời câu hỏi. - Tính giá trị tốt hơn, với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để chọn, người ta có thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật…tổng quát hóa… rất hữu hiệu. - Có thể phân tích tính chất mỗi câu hỏi. Dùng phương pháp phân tích tính chất câu hỏi, chúng ta có thể xác định câu nào quá dễ, câu nào quá khó, câu nào không có giá trị đối với mục tiêu cần trắc nhiệm, có thể xem xét câu nào không có lợi hoặc làm giảm giá trị câu hỏi.
- Thật sự khách quan khi chấm bài. Điểm số của bài TNKQ không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt, hoặc trình độ người chấm bài… * Nhược điểm - Loại câu này khó soạn vì phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại gọi là câu nhiều thì cũng có vẻ hợp lý. Ngoài ra phải soạn câu hỏi như thế nào để đo được các mức trí năng cao hơn mức biết nhớ, hiểu. - Có thể HS có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho những HS đó cảm thấy không thỏa mãn, không phục.
- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi TNTL soạn kỹ. - Ngoài ra tốn kém giấy mực để in đề loại câu hỏi này so với loại câu hỏi khác là cũng cần nhiều thời gian để HS đọc nội dung câu hỏi. Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể dùng thẩm định trí năng mức biết, hiểu, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp, hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn. Vì vậy khi viết câu hỏi này giáo viên cần lưu ý: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề.
Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải nhấn mạnh để HS không phải nhầm. Câu dẫn phải là câu hỏi trọn vẹn để HS hiểu được mình đang được hỏi vấn đề gì. - Câu chọn cũng phải rõ ràng dễ hiểu, phải có cùng loại quan hệ với câu dẫn và chúng phải phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn. - Nên có 5 phương án để chọn cho mỗi câu hỏi.
Nếu số phương án trả lời ít hơn thì yếu tố đoán mò may rủi sẽ tăng lên. Nhưng nếu có quá nhiễu phương án để chọn thì thấy giáo viên khi soạn và HS thì mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi, các câu nhiễu phải có vẻ hợp lý và có sức hấp dẫn như nhau để những HS kém chọn. Trong một bài TNKQ cần lưu ý sắp xếp mỗi phương án đúng trong các câu nhiều lựa chọn 5 phương án của bài TN nên xấp xỉ bằng 20%, trường hợp thí sinh chỉ chọn một phương án cố định thì khi tính điểm hiệu chỉnh thì sẽ có điểm). - Phải chắc chắn chỉ có một phương án trả lời đúng, còn các phương án còn lại thật sự nhiễu.
- Thời gian để trả lời một câu hỏi ít từ 1 3 phút, do đó các môn khoa học tự nhiên, đặc biệt là hóa học khi xây dựng các bài toán TNKQ nhiều lựa chọn nên xây dựng và biên soạn các bài toán có thể giải nhanh giúp HS phát triển tư duy óc sáng tạo, khả năng phán đoán một cách logic và khoa học. Cơ sở lí luận về nhận thức 1. Khái niệm nhận thức [16, tr. 67] Nhận thức, tình cảm và hành động là ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người.
Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia và cũng quan hệ mệt thiết với các hiện tượng tâm lí khác của con người. Nhận thức là một quá trình.