đặt vấn đề để giải quyết. - Tự mình tìm ra cách giải quyết bài toán, tự mình kiểm tra được, đánh giá được cách giải của bản thân. - Có đầu óc tự phê phán và phê phán được cách giải của người khác. - Bằng sự hiểu biết tự mình trình bày suy nghĩ, lập luận cách giải bài toán một cách chặt chẽ.
Như vậy, để rèn được tư duy độc lập cho học sinh thì phải tạo điều kiện để học sinh suy nghĩ độc lập. Giáo viên nêu câu hỏi, nêu vấn đề để học sinh nghiên cứu đề xuất cách giải quyết, ra kết luận. Giáo viên quan tâm chỉ đạo công tác độc lập của học sinh, nhất là bài tập ở nhà; khuyến khích nhận xét cách giải của bạn giúp học sinh biết phương pháp suy nghĩ độc lập và thực hiện hành động độc lập; tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập vận dụng; yêu cầu học sinh tự ra đề của bài tập; cho giải bài tập nâng cao dần nội dung của bài tập tính toán; ra bài tập nhỏ áp dụng vào tình huống mới, gây cho học sinh hứng thú suy nghĩ độc lập; hướng dẫn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học sinh sử dụng sách giáo khoa và tự học; khuyến khích học sinh sưu tầm các hiện tượng trong thực tế và bài tập mới. Giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá đúng mức suy nghĩ và hành động độc lập của học sinh.
Ngoài ra, để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh một cách toàn diện hơn, chúng ta cần phối hợp một số biện pháp cụ thể sau: * Đối với giáo viên - Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn học sinh cách tự học. - Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của giáo viên, dành thời gian thích đáng cho học sinh tự học, tự nghiên cứu, làm thí nghiệm, thảo luận, giải đáp thắc mắc. - Tăng cường biên soạn giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lực nhận thức cho học sinh, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủ các phương tiện dạy học cần thiết. Tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các bài tập trong tổ chuyên môn.
- Tăng cường tìm kiếm và xây dựng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và tự ôn tập kiến thức qua nhiều kênh thông tin. - Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. - Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học. * Đối với học sinh - Cần xác định thái độ học tập đúng đắn.
- Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu. - Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học và nghiêm túc thực hiện kế hoạch, thời gian biểu. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Bồi dưỡng phương pháp đọc sách, phương pháp nghe bài giảng hoặc ghi chép. - Rèn luyện cho học sinh khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong học tập.
- Hướng dẫn học sinh tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, tìm kiếm các trang web phục vụ cho quá trình học tập. Bài tập hóa học 1. Khái niệm bài tập hóa học Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương pháp dạy học hiệu quả.
Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưng phấn - hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người, điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển. Vậy BTHH là gì ? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn, đặc biệt là GV nên sử dụng BTHH như thế nào để đạt hiệu quả trí - đức dục cao nhất ? Theo từ điển tiếng Việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học. Một số tài liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” để chỉ những bài tập định lượng - đó là những bài tập có tính toán - khi HS cần thực hiện những phép tính nhất định. Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trình dạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động.
Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 9 là một “bài tập” và ngược lại, đối với HS lớp 9, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một “người giải”. Vì vậy, bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, và liên hệ chặt chẽ với nhau. a) Bài tập - đối tượng. b) Người giải - chủ thể.
Bài tập là một hệ thông tin chính xác, bao gồm 2 tập hợp gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại với nhau đó là những điều kiện và những yêu cầu. Người giải (hệ giải) bao gồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (các cách biến đổi, thao tác trí tuệ,. BÀI TẬP NGƯỜI GIẢI Những điều kiện Phép giải Những yêu cầu Phương tiện giải Sơ đồ 1. Cấu trúc của hệ bài tập Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài tập là nhưng bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn.
Theo chúng tôi, thuật ngữ “BTHH” chung hơn khái niệm “bài toán hóa học” và bao hàm cả khái niệm bài toán hóa học và có thể coi BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học. Vai trò của bài tập hóa học trong việc bồi dưỡng năng lực tự học Bài tập có vai trò quan trọng trong môn Hóa học. Thông qua việc giải bài tập, học sinh phải thực hiện những hoạt động nhất định, những hoạt động Hóa học 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phức hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong Hóa học. Hoạt động của học sinh liên hệ mật thiết và thể hiện ở mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học: Thứ nhất, đối với mục tiêu dạy học, bài tập hóa học nhằm: - Hình thành, củng cố tri thức kĩ năng ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học, kể cả những ứng dụng của Hóa học vào thực tiễn đời sống.
- Phát triển năng lực trí tuệ: rèn luyện những hoạt động tư duy, hình thành những phẩm chất trí tuệ. - Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, hình thành những phẩm chất đạo đức của người lao động mới. Thứ hai, đối với nội dung dạy học, bài tập hóa học là một phương tiện cài đặt nội dung để hoàn chỉnh hay bổ sung cho những tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lý thuyết. Thứ ba, đối với phương pháp dạy học, bài tập hóa học là hoạt động để người học kiến tạo những tri thức nhất định và trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu dạy học khác nhau.
Khai thác tốt những bài tập như vậy sẽ góp phần tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu. Bài tập là một hình thức tốt để dẫn dắt học sinh tự mình đi đến kiến thức mới. Nguyễn Cảnh Toàn: “Cái thu hoạch chính đối với học sinh không phải là những kiến thức mới (đối với họ) đó vì kiến thức mới do học sinh tự tìm ra, hoặc là rất thứ yếu, hoặc nếu có một tầm quan trong nào đó thì khi lên các lớp trên họ sẽ được học kĩ hơn, hệ thống hơn, mà cái đáng quý là qua lao động tìm tòi, sáng tạo, họ nhuyễn dần với một kiểu tư duy mà lâu nay nhà trường ít dạy cho họ và cùng với sự nhuyễn dần đó là lòng tin vào khả năng sáng tạo của mình, lòng ham muốn tìm tòi, phát minh” Như vậy thông qua việc giải các bài tập, học sinh được rèn luyện các kĩ năng rèn luyện các thao tác tư duy; nâng cao khả năng tự phân tích, tự tổng hợp và tự 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đánh giá một vấn đề. Cũng thông qua việc giải một hệ thống các bài tập về một chủ đề nào đó sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc trước hết về chủ đề đó, tiếp đến là hiểu rõ phần nào bản chất của nội dung đang được nghiên cứu, tìm hiểu.
Từ đó giúp cho học sinh có hứng thú trong học tập, phát triển tư duy sáng tạo và góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho bản thân. Cơ sở thƣc̣ tiễn về bồ i dƣỡng năng lƣc̣ tƣ ̣ ho ̣c 1. Thực trạng tự học của HS ở trường THCS trên địa bàn Hà Nội Địa bàn: 2 trường THCS tại TP Hà Nội Để điều tra về tình hình tự học của bản thân học sinh chúng tôi đã sử dụng một số câu hỏi và thu được kết quả sau: 1. Em có yêu thích bộ môn Hoá học hay không ? TT Ý thức học tập bộ môn Số lƣợng Tỷ lệ (%) 1 - Yêu thích môn học 158 78,2 2 - Chỉ coi môn học là nhiệm vụ 43 21,3 3 - Không hứng thú với môn học 1 0,5 2.
Trong quá trình học tập em có thường xuyên tự học hay không ? TT Mức độ Số lƣợng Tỷ lệ (%) 1 Tự học thường xuyên 47 23,3 2 Bình thường 101 50,0 3 Chưa thường xuyên, thiếu tích cực 52 25,7 4 Không bao giờ tự học 2 1,0 3. Thời gian dành cho việc tự học ở nhà - Ít hơn 2 giờ/ngày : 125 HS (61,9%) 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.