Tổng quan luận án

Công tác xây dựng đời sống văn hóa (ĐSVH) ở cơ sở là một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1982), tiếp tục được củng cố và phát triển qua Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (Khóa IX) năm 2004 và Nghị quyết Trung ương 9 (Khóa XI). Trong lực lượng vũ trang, ĐSVH tại các đơn vị cơ sở là một bộ phận của ĐSVH xã hội, đồng thời mang tính đặc thù sâu sắc của môi trường quân sự. Xây dựng ĐSVH trong Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) gắn liền với mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trực tiếp bồi dưỡng nhân cách quân nhân theo chuẩn mực "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới được quy định tại Chỉ thị số 855-CT/QUTƯ ngày 12/8/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, đồng thời kế thừa kết quả cuộc vận động "Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh ở đơn vị cơ sở" do Tổng cục Chính trị (TCCT) phát động từ năm 1992.

Sư đoàn Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361), được thành lập năm 1965 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là lực lượng nòng cốt trong tác chiến phòng không, đảm nhiệm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, quản lý và bảo vệ vững chắc vùng trời Thủ đô Hà Nội cùng các địa bàn lân cận. Hiện nay, trong bối cảnh lực lượng Phòng không - Không quân (PK-KQ) và Sư đoàn được xác định tiến thẳng lên hiện đại, công tác xây dựng ĐSVH giữ vai trò chi phối tư tưởng, tình cảm và hành động của cán bộ, chiến sĩ (CB, CS). Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức hoạt động xây dựng ĐSVH tại Sư đoàn đang đứng trước những khó khăn, bất cập: sự phối hợp giữa các chủ thể có thời điểm chưa chặt chẽ; cơ sở vật chất, trang thiết bị và hoạt động văn hóa (HĐVH) chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu tinh thần của bộ đội; đội ngũ cán bộ, nhân viên hoạt động văn hóa văn nghệ (VHVN) ở cấp cơ sở còn thiếu hụt. Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hóa, sự thâm nhập của các luồng văn hóa độc hại, âm mưu "diễn biến hòa bình" tác động tiêu cực đến nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ của quân nhân. Luận án chỉ ra khoảng trống: đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, hệ thống, toàn diện về xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn Phòng không Hà Nội dưới góc độ khoa học quản lý văn hóa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn Phòng không Hà Nội (PKHN), luận án đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác này, phù hợp với nhu cầu văn hóa của cán bộ, chiến sĩ và yêu cầu phát triển của QĐNDVN cùng Sư đoàn hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 03 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận, lý thuyết vận dụng trong luận án, tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
  2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN.
  3. Phân tích làm rõ những yếu tố tác động và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN có ý nghĩa như thế nào trong việc xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới cho bộ đội ở Sư đoàn PKHN?
  2. Việc phát huy vai trò của các chủ thể trong xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN được thực hiện như thế nào?
  3. Xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN gắn với vai trò của các chủ thể có những vấn đề tồn tại hạn chế gì, khắc phục bằng cách nào?

Giả thuyết khoa học của đề tài:

  1. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, công tác xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, tích cực và tiêu cực, dẫn đến những ảnh hưởng nhất định, cần phải nhận biết đầy đủ để có giải pháp thích hợp.
  2. Cần những giải pháp để tiếp tục xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN đem lại kết quả mong muốn trước những ảnh hưởng của các yếu tố tác động đã được phân tích.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2022. Đây là giai đoạn Sư đoàn triển khai thực hiện Thông tư số 104/2014/TT-BQP ngày 13/8/2014, bước đầu thực hiện Thông tư số 138/2020/TT-BQP ngày 10/11/2020 của Bộ Quốc phòng quy định chế độ, định mức, tiêu chuẩn ĐSVH, tinh thần trong QĐNDVN; thực hiện Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/11/2020 của Bộ Quốc phòng phê duyệt Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong QĐNDVN giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; đồng thời tổng kết 30 năm thực hiện Chỉ thị số 143/CT ngày 12/5/1992 của TCCT về cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh.
  • Phạm vi không gian: 05 đơn vị cơ sở đại diện của Sư đoàn PKHN gồm: Cơ quan Sư đoàn bộ, đơn vị H50, đơn vị H80, đơn vị H93, và đơn vị D11. Các đơn vị này đại diện cho các lực lượng chuyên môn khác nhau, phân bố ở nội thành, ngoại thành Hà Nội và vùng núi các tỉnh lân cận.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung làm rõ vai trò của các chủ thể tham gia xây dựng ĐSVH và quy trình công tác xây dựng ĐSVH gồm 4 khâu: xây dựng chương trình, kế hoạch; huy động, sử dụng, quản lý các nguồn lực; tổ chức thực hành các HĐVH; kiểm tra, đánh giá và thi đua khen thưởng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan 5 nhóm công trình nghiên cứu chính liên quan đến đề tài:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa. Cuốn sách Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở (1984) của Viện Văn hóa - Bộ Văn hóa phân định ĐSVH theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp (tập trung vào quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ sản phẩm văn hóa trong thời gian rỗi) với 5 hoạt động cơ bản. Hoàng Vinh (chủ biên, 1999) trong Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta xác định cấu trúc ĐSVH gồm sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa, các dạng HĐVH và con người văn hóa. Đình Quang (chủ biên, 2005) trong Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam chỉ ra tính đa dạng và sự chi phối của địa bàn cư trú đến ĐSVH. Nguyễn Hữu Thức (2009) trong Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa định nghĩa ĐSVH là quá trình trao đổi thông qua HĐVH nhằm nâng cao chất lượng sống. Kỷ yếu Hội thảo Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống văn hóa, môi trường văn hóa (2015) ghi nhận các góc nhìn của Nguyễn Văn Hy, Lê Quý Đức, Đinh Thị Vân Chi, Nguyễn Thị Phương Lan, Nguyễn Thị Thanh Mai và Từ Thị Loan về nội hàm, ranh giới giữa ĐSVH và môi trường văn hóa. Đặng Thị Thúy Hằng (2016) nghiên cứu ĐSVH cư dân ven biển Hà Tĩnh; Nguyễn Thị Hương và Vũ Thị Phương Hậu (đồng chủ biên, 2016) phân tích ĐSVH thanh niên đô thị gồm chủ thể, hoạt động, thiết chế và sản phẩm văn hóa.

Nhóm 2: Các công trình về xây dựng đời sống văn hóa và quản lý văn hóa cơ sở. Nguyễn Văn Hy (1985) đề xuất mô hình 6 mặt HĐVH cơ sở. Nhóm tác giả cuốn Quản lý hoạt động văn hóa (1998) đánh giá mô hình 6 mặt hoạt động trong bối cảnh chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hà Văn Tăng (chủ biên, 2004) trong Tài liệu nghiệp vụ Văn hóa - Thông tin cơ sở và Cục Văn hóa cơ sở (2013) trong Tài liệu nghiệp vụ Văn hóa cơ sở hệ thống hóa 8 nội dung hoạt động văn hóa cơ sở. Chu Thái Thành (2010) và Nguyễn Hùng Khu (2012) phân tích các giải pháp xây dựng ĐSVH cộng đồng thời kỳ hội nhập. Chris Barker (2011) trong Nghiên cứu văn hóa: Lý thuyết và thực hành đề cập tác động của truyền thông kỹ thuật số và văn hóa đại chúng đến thị hiếu công chúng. Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng chủ biên, 2012) trong Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế cung cấp khung lý thuyết về quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa.

Nhóm 3: Các nghiên cứu quốc tế về văn hóa quân sự và hoạt động văn hóa - giải trí quân đội. Tại Liên bang Nga, Kazakov D.E (2007) phân tích các khía cạnh văn hóa xã hội trong hình thành giá trị nghĩa vụ quân sự. Moskvina V.M (luận án tiến sĩ lịch sử) khẳng định vai trò của hoạt động văn hóa - giải trí trong bồi dưỡng nhân cách quân nhân. Romanova E.N (2008) xem văn hóa quân sự là một tiểu văn hóa (subculture) với các chuẩn mực, nghi thức và biểu tượng riêng. V.V. Kruglov (2015) phân tích các thành tố văn hóa chính trị, văn hóa quản lý, kỷ luật và kỹ thuật quân sự. B.V. Vorobieva (chủ biên, 2015) trong giáo trình Hoạt động văn hóa - giải trí trong các lực lượng vũ trang Liên bang Nga phân tích chi tiết cơ chế quản lý Nhà sĩ quan, Câu lạc bộ, Thư viện, Phòng thông tin - giải trí và cơ chế cung cấp dịch vụ có thu phí. Khusnutdinov A.A (2018) chỉ rõ hai chức năng cốt lõi của giải trí quân sự là tái tạo và phát triển. Tại Hoa Kỳ, báo cáo của CSIS (2000) về Văn hóa quân đội Hoa Kỳ thế kỷ XXI nhấn mạnh tính kỷ luật, tính chuyên nghiệp, nghi thức và tinh thần đồng đội.

Nhóm 4: Các công trình về xây dựng ĐSVH trong QĐNDVN. Nhóm tác giả Quản lý hoạt động văn hóa (1998) chỉ ra tính đặc thù của môi trường văn hóa quân đội. Đào Mô (chủ biên, 2005) trong Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay bổ sung việc thực hành các giá trị, chuẩn mực văn hóa vào cơ cấu HĐVH. Đặng Mỹ Hạnh (chủ biên, 2009) nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc phục vụ bộ đội. Hoàng Văn Chức (chủ biên, 2012) làm rõ phương thức hoạt động văn hóa - nghệ thuật của các thiết chế Nhà văn hóa, Câu lạc bộ, Phòng Hồ Chí Minh, Bảo tàng, Thư viện. Nguyễn Đức Trịnh (2014) phân chia HĐVH quân đội thành 4 nhóm: sáng tạo, thưởng thức, thực hành và quản lý. Đinh Xuân Dũng (2016) nhấn mạnh quan điểm "văn hóa hóa toàn bộ đời sống quân đội". Đào Hải Triều (2018) nghiên cứu hệ thống bảo tàng quân đội gắn với việc tuyên truyền, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cục Tuyên huấn - TCCT (2018) ban hành tài liệu nghiệp vụ công tác tuyên huấn chuẩn hóa 6 mặt công tác văn hóa tư tưởng.

Nhóm 5: Các tài liệu liên quan đến Sư đoàn Phòng không Hà Nội. Lịch sử Sư đoàn Phòng không 361 (1965-2015) (2015) và Lịch sử Trung đoàn Ra-đa 293 (1966-2016) (2016) phản ánh lịch sử chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh, đề cập việc xây dựng Nhà truyền thống và phong trào xây dựng điểm sáng văn hóa. Lưu Thị Phương Thảo (2001) trong luận văn thạc sĩ Xây dựng môi trường văn hóa ở Sư đoàn Phòng không Hà Nội tiếp cận môi trường văn hóa từ góc độ văn hóa học. Nguyễn Thị Kim Liên (2014) nghiên cứu công tác phục vụ bạn đọc tại Thư viện Sư đoàn PKHN.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Chưa có công trình khoa học nào tiếp cận xây dựng ĐSVH ở Sư đoàn PKHN một cách toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Quản lý văn hóa, vận dụng lý thuyết về vai trò của các chủ thể để giải quyết mối quan hệ giữa định hướng quản lý tập trung quân sự với việc đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng của quân nhân trong thời kỳ mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng lý thuyết quản lý tổ chức hiện đại, tiếp thu định nghĩa của Stephen Robbins (quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt động của các thành viên cùng các nguồn lực để đạt mục tiêu) và 5 chức năng quản trị kinh điển của Henri Fayol (dự đoán và lập kế hoạch; tổ chức; điều khiển; phối hợp; kiểm tra). Vận dụng vào quản lý văn hóa quân sự, tác giả xác lập khung phân tích công tác xây dựng ĐSVH tại đơn vị gồm 4 khâu liên hoàn:

  1. Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động văn hóa (đánh giá nguồn lực, dự báo nhu cầu, xác định mục tiêu, lựa chọn phương án).
  2. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, kinh phí tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật).
  3. Tổ chức thực hành các HĐVH (tuyên truyền cổ động, giáo dục truyền thống, thư viện - sách báo, văn nghệ quần chúng, xem biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, vui chơi giải trí, xây dựng nếp sống chính quy, hoạt động nghĩa tình).
  4. Kiểm tra, đánh giá và thi đua khen thưởng.

Đồng thời, luận án sử dụng lý thuyết về vai trò của các chủ thể văn hóa, chia thành:

  • Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo: Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn và các cấp, chính ủy, chính trị viên.
  • Chủ thể tham mưu, quản lý, tổ chức: Cơ quan chính trị, cán bộ tuyên huấn, trợ lý văn hóa, cán bộ quản lý thiết chế.
  • Chủ thể thực hành, thụ hưởng và sáng tạo: Toàn thể hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng và các tổ chức quần chúng (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội đồng quân nhân).

Tiêu chí đánh giá chất lượng xây dựng ĐSVH được luận án đối chiếu theo Hướng dẫn số 257/HD-CT ngày 26/2/2019 của TCCT về xét tặng danh hiệu "Đơn vị văn hóa" trong QĐNDVN, bao gồm 5 tiêu chuẩn chính trị, kỷ luật, môi trường cảnh quan và đời sống tinh thần.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành (quản lý văn hóa, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học quân sự) kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý hệ thống văn bản pháp quy, nghị quyết, chỉ thị, thông tư của Đảng, Bộ Quốc phòng, TCCT và các kế hoạch công tác văn hóa tư tưởng của Sư đoàn PKHN.
  • Phương pháp khảo sát điền dã (quan sát tham dự và phỏng vấn sâu): Tác giả trực tiếp tham dự, quan sát các HĐVH tại cơ sở như đọc sách báo ở Thư viện Sư đoàn, tham quan Nhà truyền thống Sư đoàn, phòng truyền thống đơn vị H50, hoạt động Phòng Hồ Chí Minh ở đơn vị H80, hội diễn văn nghệ quần chúng tại đơn vị D11. Tiến hành 14 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) đại diện cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị, cán bộ quản lý văn hóa và chiến sĩ tại các đơn vị cơ sở.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Điều tra thu thập dữ liệu định lượng về nhận thức, nhu cầu, mức độ hài lòng đối với hoạt động và thiết chế văn hóa. Tổng số mẫu khảo sát hợp lệ là 300 mẫu, được phân bổ ngẫu nhiên và mang tính đại diện tại 5 đơn vị.
STT Đơn vị khảo sát Số lượng mẫu (phiếu) Đối tượng khảo sát
1 Cơ quan Sư đoàn bộ 53 Cán bộ chỉ huy, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ
2 Đơn vị H50 59 Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ
3 Đơn vị H80 52 Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ
4 Đơn vị H93 69 Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ
5 Đơn vị D11 67 Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ
Tổng 05 đơn vị 300 Đầy đủ các thành phần cơ cấu quân nhân
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh hoạt động văn hóa giữa Sư đoàn PKHN với các đơn vị quân đội khác; so sánh giữa các đơn vị cơ sở trong Sư đoàn (nội thành, ngoại thành, vùng đồi núi); đối chiếu thực trạng thiết chế và tổ chức quản lý trước và sau thời điểm ban hành Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/11/2020 của Bộ Quốc phòng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về Sư đoàn Phòng không Hà Nội

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ĐSVH và quản lý ĐSVH trong môi trường quân sự. Luận án xác định 4 đặc điểm cốt lõi của ĐSVH quân đội:

  1. Mang tính chính quy, thống nhất và kỷ luật cao gắn với đặc thù huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tuân thủ nghiêm ngặt 10 lời thề, 12 điều kỷ luật và các chế độ nền nếp quân sự.
  2. Mang tính phong phú, đa dạng, gắn bó mật thiết và gìn giữ văn hóa, nghệ thuật truyền thống của các địa phương nơi đóng quân.
  3. Thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa giá trị văn hóa quân sự truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát huy giá trị nhân cách "Bộ đội Cụ Hồ".
  4. Được xây dựng bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố bên trong (nội lực quân đội) và bên ngoài đơn vị (chính quyền địa phương, nhân dân, các đoàn thể và hoạt động giao lưu quốc tế).

Về mặt thực tiễn tổ chức, chương này khái quát lịch sử hình thành, chức năng, nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội của Sư đoàn 361. Tác giả phân tích Sơ đồ 1.1 (Khung phân tích nội dung luận án) làm định hướng cho toàn bộ việc đánh giá thực trạng ở chương sau.

Chương 2: Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa ở Sư đoàn Phòng không Hà Nội

Chương 2 trình bày kết quả phân tích số liệu thực địa, khảo sát 300 quân nhân và 14 cuộc phỏng vấn sâu tại 5 đơn vị cơ sở.

Về tổ chức bộ máy và quan hệ chủ thể: Luận án phân tích cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động xây dựng ĐSVH trước và sau khi Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/11/2020. Trước quyết định này, hệ thống thiết chế gồm Nhà văn hóa Sư đoàn, Câu lạc bộ cấp trung đoàn và Phòng Hồ Chí Minh ở cấp tiểu đoàn, đại đội. Sau quyết định, hệ thống được tinh gọn, quy chuẩn hóa lại theo phân cấp thiết chế, bổ sung thiết chế Phòng Sinh hoạt chung cho cấp đại đội và tương đương (theo quy định của TCCT tháng 12/2021).

Về năng lực đội ngũ và nguồn lực bảo đảm: Số liệu điều tra chỉ ra thực trạng về trình độ chuyên môn và kỹ năng của cán bộ, nhân viên VHVN cơ sở:

  • Trình độ chuyên môn: Đa số cán bộ làm công tác VHVN kiêm nhiệm, số lượng cán bộ được đào tạo bài bản về quản lý văn hóa hoặc nghệ thuật còn thấp.
  • Kỹ năng, phương pháp tổ chức: Cán bộ cơ sở còn lúng túng trong đổi mới hình thức hoạt động văn hóa thanh niên, phương pháp tổ chức sinh hoạt tập thể chưa thực sự linh hoạt.
  • Nguồn lực kinh phí và cơ sở vật chất: Đơn vị đã tích cực khai thác ngân sách quốc phòng theo tiêu chuẩn Thông tư 104/2014/TT-BQP và Thông tư 138/2020/TT-BQP, tuy nhiên mức bảo đảm trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, phòng đọc ở một số trận địa phân tán còn chênh lệch so với cơ quan Sư đoàn bộ.

Về kết quả hoạt động của các thiết chế và hoạt động văn hóa:

  • Hoạt động thư viện, phòng đọc: Đã phục vụ tốt nhu cầu tra cứu tài liệu quân sự và giải trí, song danh mục sách văn học và kỹ năng sống mới chưa được cập nhật thường xuyên.
  • Phòng Hồ Chí Minh và Nhà truyền thống: Phát huy tốt vai trò giáo dục truyền thống đánh thắng máy bay Mỹ, giữ vững trận địa tư tưởng.
  • Văn nghệ quần chúng và thể dục thể thao: Các giải thi đấu thể thao nội bộ, hội thao, liên hoan nghệ thuật quần chúng và việc học tập 15 bài hát quy định trong quân đội được duy trì nghiêm túc, tạo khí thế thi đua sôi nổi.

Đánh giá chung: Thành tựu lớn nhất là giữ vững định hướng chính trị, tạo môi trường văn hóa lành mạnh, ngăn chặn sản phẩm xấu độc xâm nhập đơn vị, duy trì phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ". Hạn chế nổi cộm là sự thiếu hụt cán bộ chuyên trách văn hóa cơ sở, trang thiết bị văn hóa xuống cấp ở các đơn vị trực chiến nhỏ lẻ, và hình thức hoạt động ở một số nơi còn mang tính hành chính, rập khuôn.

Chương 3: Những yếu tố tác động và giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa ở Sư đoàn Phòng không Hà Nội hiện nay

Chương 3 chỉ rõ hai nhóm yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến ĐSVH của Sư đoàn:

  • Yếu tố khách quan: Tác động của cơ chế kinh tế thị trường, các phương tiện truyền thông số, sự du nhập văn hóa ngoại lai; âm mưu "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng của các thế lực thù địch; đặc điểm địa bàn đóng quân xen kẽ đô thị và vùng nông thôn, miền núi phức tạp.
  • Yếu tố chủ quan: Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp; tính chất nhiệm vụ canh trời sẵn sàng chiến đấu 24/24 giờ với áp lực tâm lý cao; sự thay đổi tâm lý, thị hiếu giải trí của lớp chiến sĩ trẻ nhập ngũ hiện nay.

Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm:

  1. Nâng cao nhận thức và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo: Đưa nhiệm vụ xây dựng ĐSVH vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ của cấp ủy các cấp; gắn tiêu chí xây dựng ĐSVH với phong trào Thi đua Quyết thắng và tiêu chuẩn đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu".
  2. Hoàn thiện quy trình lập kế hoạch và đổi mới nội dung, phương thức HĐVH: Xây dựng kế hoạch sát thực tế từng trạm ra-đa, khẩu đội phòng không; phối hợp các loại hình văn hóa truyền thống với các hình thức sinh hoạt hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền cổ động.
  3. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên VHVN: Chú trọng tập huấn kỹ năng dàn dựng văn nghệ, điều hành hoạt động câu lạc bộ, phương pháp tuyên truyền miệng và kỹ năng tổ chức diễn đàn thanh niên cho cán bộ chính trị viên, trợ lý tuyên huấn.
  4. Tăng cường đầu tư, bảo đảm và hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết chế văn hóa: Phân bổ hợp lý nguồn kinh phí theo quy chuẩn của Bộ Quốc phòng, ưu tiên các đơn vị đóng quân độc lập, vùng sâu, vùng xa; trang cấp đầy đủ tủ sách, thiết bị nghe nhìn theo Thông tư số 138/2020/TT-BQP.
  5. Phát huy vai trò phối hợp giữa các lực lượng và mở rộng giao lưu văn hóa kết nghĩa: Tăng cường kết nghĩa với các tổ chức chính trị - xã hội, các trường đại học, nhân dân địa phương nơi đóng quân; tạo thế trận lòng dân vững chắc và làm phong phú thêm đời sống tinh thần của bộ đội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên vận dụng lý thuyết về vai trò của các chủ thể vào nghiên cứu toàn diện công tác xây dựng ĐSVH trong môi trường quân đội, cụ thể tại Sư đoàn PKHN.
  • Luận án làm sáng tỏ và phát triển hệ thống khái niệm, quan điểm, nội dung xây dựng ĐSVH quân sự dưới lăng kính khoa học quản lý văn hóa; chỉ ra mối quan hệ giữa 4 khâu quản lý (lập kế hoạch, quản lý nguồn lực, tổ chức thực hành, kiểm tra thi đua) với sự phân định rõ ràng giữa các HĐVH và hệ thống thiết chế văn hóa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Luận án cung cấp bức tranh thực trạng chân thực, khách quan với hệ thống số liệu định lượng (300 mẫu khảo sát) và dữ liệu định tính (14 cuộc phỏng vấn sâu) về tình hình xây dựng ĐSVH tại 5 đơn vị cơ sở Sư đoàn PKHN giai đoạn 2014-2022.
  • Nhận diện rõ tác động thực tế của việc thực hiện Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/11/2020 đối với việc chuyển đổi, sắp xếp hệ thống thiết chế văn hóa tại đơn vị phòng không cơ sở.
  • Các giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng ĐSVH được xây dựng có căn cứ khoa học, bám sát các thông tư, quy định quân đội, có khả năng áp dụng trực tiếp cho Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn PKHN và làm tài liệu tham khảo cho các đơn vị thuộc Quân chủng PK-KQ và toàn quân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Phạm vi không gian nghiên cứu của luận án giới hạn tại 05 đơn vị cơ sở đại diện của Sư đoàn Phòng không Hà Nội (Cơ quan Sư đoàn bộ, H50, H80, H93, D11). Do đặc thù quân sự bảo mật và biên chế đóng quân phân tán của lực lượng phòng không, luận án chưa thể bao quát khảo sát toàn bộ 100% các phân đội nhỏ lẻ hoặc các trận địa độc lập vùng núi cao. Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2022, thời điểm Thông tư 138/2020/TT-BQP và Quyết định 3672/QĐ-BQP mới bước đầu triển khai thực hiện nên số liệu đánh giá tác động dài hạn của các chính sách này cần tiếp tục được theo dõi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đơn vị không quân, hải quân hoặc các đơn vị kỹ thuật cao thuộc Quân chủng PK-KQ; nghiên cứu sâu hơn về chuyển đổi số trong quản lý thiết chế văn hóa quân đội; đo lường sự biến đổi thị hiếu văn hóa của đối tượng hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ quân sự thuộc thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong Sư đoàn Phòng không Hà Nội và Quân chủng PK-KQ nhằm hoạch định chính sách, lập kế hoạch hoạt động CTĐ, CTCT và quản lý thiết chế văn hóa tại đơn vị.
  • Đội ngũ cán bộ tuyên huấn, trợ lý văn hóa, nhân viên quản lý thư viện, phòng Hồ Chí Minh tại các đơn vị cơ sở trong việc đổi mới kỹ năng và hình thức tổ chức HĐVH.
  • Giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước tại các học viện, nhà trường quân đội và dân sự nghiên cứu về văn hóa quân sự, văn hóa cơ sở và quản lý thiết chế văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu điều tra xã hội học định lượng của luận án được phân bổ như thế nào? Tác giả đã phát phiếu điều tra và thu thập 300 mẫu hợp lệ tại 5 đơn vị cơ sở đại diện cho các vị trí và lực lượng của Sư đoàn PKHN: Cơ quan Sư đoàn bộ (53 mẫu), đơn vị H50 (59 mẫu), đơn vị H80 (52 mẫu), đơn vị H93 (69 mẫu) và đơn vị D11 (67 mẫu). Mẫu bao gồm đầy đủ cơ cấu cán bộ chỉ huy, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng và hạ sĩ quan, binh sĩ.

2. Các văn bản quy phạm và chỉ đạo trọng tâm nào của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị được luận án sử dụng làm mốc giới hạn nghiên cứu? Luận án căn cứ vào:

  • Thông tư số 104/2014/TT-BQP ngày 13/8/2014 và Thông tư số 138/2020/TT-BQP ngày 10/11/2020 quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn ĐSVH, tinh thần trong QĐNDVN.
  • Quyết định số 3672/QĐ-BQP ngày 24/11/2020 về quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa giai đoạn 2021-2025, định hướng 2030.
  • Chỉ thị số 143/CT ngày 12/5/1992 của TCCT về cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh.
  • Hướng dẫn số 257/HD-CT ngày 26/2/2019 của TCCT về xét tặng danh hiệu "Đơn vị văn hóa".

3. Khung phân tích nội dung xây dựng đời sống văn hóa trong quân đội của luận án gồm những khâu nào? Dưới góc độ quản lý văn hóa, luận án xác định quy trình gồm 4 nội dung:

  1. Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động văn hóa.
  2. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất).
  3. Tổ chức thực hành các hoạt động văn hóa (tuyên truyền cổ động, giáo dục truyền thống, sách báo, VHVN, vui chơi giải trí, nếp sống chính quy, hoạt động nghĩa cử).
  4. Kiểm tra, đánh giá và thi đua khen thưởng.

4. Đời sống văn hóa trong quân đội có những đặc điểm cơ bản nào theo luận án? Luận án chỉ ra 4 đặc điểm:

  • Mang tính chính quy, thống nhất, kỷ luật cao gắn với đặc thù hoạt động quân sự.
  • Mang tính phong phú, đa dạng, gắn bó mật thiết và gìn giữ văn hóa, nghệ thuật truyền thống của nhiều địa phương.
  • Thể hiện mối quan hệ giữa giá trị văn hóa quân sự truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát triển giá trị "Bộ đội Cụ Hồ".
  • Được xây dựng bởi sự kết hợp hai yếu tố: bên trong và bên ngoài đơn vị.

5. Điểm điều chỉnh về thiết chế văn hóa tại Sư đoàn PKHN sau Quyết định số 3672/QĐ-BQP năm 2020 là gì? Quyết định số 3672/QĐ-BQP đã quy hoạch lại hệ thống thiết chế văn hóa toàn quân, tiến hành tinh giản, sắp xếp lại các thiết chế cấp cơ sở (sáp nhập, giải thể một số mô hình câu lạc bộ hoạt động kém hiệu quả) và chuẩn hóa thiết chế Phòng Sinh hoạt chung cho các đơn vị cấp đại đội và tương đương theo quy chế mới của Tổng cục Chính trị ban hành tháng 12/2021.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Xây dựng đời sống văn hóa ở Sư đoàn Phòng không Hà Nội" của tác giả Lưu Thị Phương Thảo là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa, giải quyết thấu đáo vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống tinh thần của người chiến sĩ phòng không bảo vệ Thủ đô. Bằng cách tiếp cận liên ngành kết hợp khảo sát thực chứng chặt chẽ (300 mẫu điều tra, 14 phỏng vấn sâu), tác giả đã phân tích toàn diện thực trạng hoạt động và thiết chế văn hóa tại 5 đơn vị cơ sở giai đoạn 2014-2022. Các giải pháp do luận án đề xuất bám sát đặc thù quân sự sẵn sàng chiến đấu, đóng góp thiết thực cho công tác Đảng, công tác chính trị nhằm xây dựng Sư đoàn 361 vững mạnh toàn diện, xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời kỳ mới.