Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT 1. Một số khái niệm cơ bản Từ trước đến nay, trong công tác cán bộ, trong các văn bản, nghị quyết của Đảng đề cập nhiều đến khái niệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Tuy nhiên, chưa có một quan niệm thống nhất và những tiêu chí cụ thể để xác định trong bộ máy tổ chức của xã thì ai được gọi là cán bộ chủ chốt và ai không phải là cán bộ chủ chốt. Để nhận thức một cách đúng đắn vấn đề cán bộ chủ chốt, cần nghiên cứu một số khái niệm cán bộ, cán bộ chủ chốt, đội ngũ cán bộ chủ chốt.
Về cán bộ: Đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên có đưa ra khái niệm cán bộ như sau: Cán bộ là “Người làm việc trong cơ quan nhà nước”; “Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước đó” [24, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt, cán bộ là “Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước”; “Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ” [25, tr. Từ điển Bách khoa toàn thư (tại Website www.vn) định nghĩa: cán bộ là thuật ngữ thường dùng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, chỉ “những người được bầu hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong các tổ chức (đảng, nhà nước, đoàn thể nhân dân) thuộc hệ thống chính trị của quốc gia, ở các cấp từ trung ương tới cơ sở”. Từ đó, có hai cách hiểu cơ bản về cán bộ: Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, các doanh nghiệp 10 nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến cơ sở.
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một tổ chức hay một cơ quan, để phân biệt với người không có chức vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một định nghĩa về cán bộ hết sức giản dị và dễ hiểu: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [33, tr. Về cán bộ chủ chốt: Theo Từ điển tiếng Việt, “Chủ chốt” có nghĩa là “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [25, tr.
Mỗi cơ quan, tổ chức, dù ở cấp trung ương, địa phương hay cơ sở đều có người lãnh đạo quản lý, có tổ chức có tập thể lãnh đạo, nhưng trong tập thể lãnh đạo đó có một người đứng đầu. Người đứng đầu đó là người lãnh đạo chủ chốt, có quyền ra quyết định về các chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều hành một đơn vị, một tổ chức, một tập thể… để thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, tổ chức, tập thể đó. Vậy, cán bộ chủ chốt được hiểu là người có chức vụ cao, nắm giữ các vị trí quan trọng nhất, có quyền quyết định, điều hành, chịu trách nhiệm chính của một tổ chức, đơn vị hoặc một địa phương… với tư cách là nhân tố then chốt, chủ yếu, có tác dụng làm nòng cốt trong việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị, địa phương đó. Việc xác định cán bộ chủ chốt hay không chủ chốt cần căn cứ vào chức trách cụ thể của mỗi người cán bộ và được đặt trong mối quan hệ với hệ thống tổ chức.
Có cán bộ ở cương vị này và trong tổ chức này là chủ chốt, nhưng trong mối quan hệ khác, vị trí khác thì không còn là chủ chốt nữa. Vì vậy, nói cán bộ chủ chốt chỉ là tương đối. 11 Về đội ngũ: Theo Sách tra cứu các mục từ về tổ chức, đội ngũ là “Nhóm đông người được tập hợp lại thành một lực lượng để thực hiện một công việc nào đó” (chẳng hạn như: đội ngũ binh sĩ tập luyện quân sự tại thao trường hoặc chiến đấu chống quân thù tại mặt trận). Đội ngũ cũng được quan niệm là “Tập hợp gồm số đông người có chung lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, hoặc cùng nghề nghiệp, giai cấp, tầng lớp xã hội…” (ví dụ: đội ngũ đảng viên, đội ngũ đoàn viên, đội ngũ những người viết báo, đội ngũ giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức).
Như vậy, đội ngũ CBCC của một địa phương, một đơn vị… là tập hợp số đông cán bộ lãnh đạo chủ chốt (không phải một vài chức danh riêng lẻ) của các tổ chức trụ cột trong một hệ thống bộ máy tổ chức của địa phương, đơn vị đó, cùng nhau lãnh đạo, điều hành tổ chức của mình để hoàn thành nhiệm vụ chung. Theo quan niệm chung nhất, hệ thống chính trị là một tổng thể những tổ chức, thiết chế chính trị - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau, hợp thành thể chế chính trị của một chế độ xã hội. Thể chế đó bảo đảm việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị trong quan hệ với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội khác. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức nằm trong hệ thống chính trị, có sứ mệnh lãnh đạo toàn xã hội thông qua Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Bộ máy nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân có chức năng quản lý mọi mặt của đời sống xã hội. Các đoàn thể nhân dân được đề cập ở đây là các tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc và là bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị, gồm: Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Liên đoàn Lao động; có chức năng tập hợp các tầng lớp xã hội thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. 12 Từ cách tiếp cận trên, đối chiếu với tình hình thực tế về đội ngũ CBCC cấp huyện, bước đầu xác định: đội ngũ CBCC cấp huyện là cán bộ giữ các cương vị chủ chốt ở cấp huyện như: bí thư, phó bí thư cấp uỷ; chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, có nhiệm vụ lãnh đạo, giám sát, quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trên địa bàn, xây dựng tổ chức, xây dựng địa phương vững mạnh.
Quan niệm thể hiện: Thứ nhất, cán bộ chủ chốt cấp huyện là một bộ phận cán bộ của Đảng, Nhà nước; làm việc, công tác ở huyện thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Thứ hai, có vai trò quan trọng trong quán triệt, thực hiện các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo, triển khai, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, anh ninh, quốc phòng cấp huyện. Thứ ba, có nhiệm vụ quan trọng trong lãnh đạo, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng các tổ chức và đội ngũ cán bộ trong huyện, địa phương trong sạch, vững mạnh. Từ những căn cứ trên, có thể quan niệm: Đội ngũ CBCC cấp huyện là tập hợp những cán bộ đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của hệ thống chính trị cấp hyện, có quyền quyết định, chi phối việc lãnh đạo, giám sát, quản lý điều hành thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có vai trò then chốt trong xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn.
Trong đội ngũ CBCC cấp huyện bao gồm các chức danh: bí thư, phó bí thư cấp uỷ; chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân; trưởng công an, trưởng quân sự, chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện, chủ tịch Hội Nông dân huyện, chủ tịch Hội Cựu Chiến binh huyện, Chủ tịch Liên đoàn Lao động. Từ đó, Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm trong Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ 13 các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, cụ thể là: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân; bám sát Cương lĩnh, Hiến pháp, Điều lệ và các văn kiện của Đảng trong việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Từ đó, đề ra mục tiêu tổng quát để lãnh đạo thực hiện là: “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương”.
* Quan niệm xây dựng đội ngũ CBCC cấp huyện: Để có quan niệm khoa học về xây dựng đội ngũ CBCC cấp huyện, trước hết cần tìm hiểu thuật ngữ “xây dựng” dưới góc độ chính trị xã hội. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “xây dựng” dưới góc độ chính trị xã hội được hiểu là “làm cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo một phương thức nhất định”.