phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 07 tiết. 13 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP XÃ 1. Cấp xã và đội ngũ cán bộ cấp xã 1. Cấp xã - khái niệm, vị trí, vai trò 1.
Khái niệm Điều 2, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: 1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); 3. Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); 4.
Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. [38] Như vậy, xã là tên gọi chung của các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam hiện nay. Thuật ngữ đơn vị hành chính cấp xã được dùng để chỉ toàn bộ cấp đơn vị hành chính thấp nhất của Việt Nam, nghĩa là bao gồm cả xã, phường và thị trấn. Xã được phân loại thành 3 loại khác nhau, căn cứ theo Điều 14 Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính quy định: Điều 14.
Tiêu chuẩn phân loại và cách tính điểm phân loại đơn vị hành chính xã. Quy mô dân số: a) Xã từ 3.500 người trở xuống được tính 10 điểm; trên 3.500 người thì cứ thêm 100 người được tính thêm 0,5 điểm, nhưng tối đa không quá 35 điểm; b) Xã miền núi, vùng cao áp dụng mức 75% quy định tại điểm a khoản này; c) Xã có đường biên giới quốc gia trên đất liền áp dụng mức 30% quy định tại điểm a khoản này. Diện tích tự nhiên từ 10 km2 trở xuống được tính 10 điểm; trên 10 km2 thì cứ thêm 0,5 km2 được tính thêm 0,5 điểm, nhưng tối đa không quá 30 điểm. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Tự cân đối được thu, chi ngân sách địa phương được tính 10 điểm.
Trường hợp chưa tự cân đối được thu, chi ngân sách địa phương, nếu số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 30% trở xuống được tính 3 điểm; trên 30% thì cứ thêm 5% được tính thêm 0,5 điểm, nhưng tối đa không quá 8 điểm; b) Xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới được tính 20 điểm. Trường hợp xã chưa đạt chuẩn nông thôn mới, nếu đạt được tiêu chí nào trong hệ thống các tiêu chí quy định chuẩn nông thôn mới thì mỗi tiêu chí được tính 1 điểm nhưng tổng số điểm các tiêu chí tối đa không quá 15 điểm; c) Xã có đường biên giới quốc gia trên đất liền áp dụng mức 30% quy định tại điểm a và điểm b khoản này. Các yếu tố đặc thù: a) Có từ 20% đến 30% dân số là người dân tộc thiểu số được tính 1 điểm; trên 30% thì cứ thêm 5% được tính thêm 0,25 điểm, nhưng tối đa không quá 2 điểm; b) Xã đặc biệt khó khăn được tính 1 điểm; 15 c) Xã an toàn khu được tính 1 điểm; d) Có di tích quốc gia đặc biệt hoặc có di sản được UNESCO công nhận được tính 1 điểm. [39] Điều 23 Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính quy định: “Điều 23.
Khung điểm phân loại đơn vị hành chính 1. Điểm phân loại đơn vị hành chính là tổng số điểm đạt được của các tiêu chuẩn về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của đơn vị hành chính đó. Tổng số điểm tối đa của các tiêu chí là 100 điểm. Đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được phân loại I khi có tổng số điểm đạt được từ 75 điểm trở lên.
Đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được phân loại II khi có tổng số điểm đạt được từ 50 điểm đến dưới 75 điểm. Đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã không đạt khung điểm xác định loại I, loại II thì được phân loại III” [39] Như vậy, đơn vị xã được chia theo loại I, II, III dựa trên số điểm tổng tính theo Điều 14. Theo Điều 23 của Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. Đơn vị hành chính cấp xã loại I khi có tổng từ 75 điểm trở lên, đơn vị hành chính cấp xã loại II khi có tổng từ 50 đến 75 điểm, còn lại là đơn vị hành chính cấp xã loại III.
Vị trí, vai trò của cấp xã Về vị trí, cấp xã là đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở các khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tương đương với xã là phường, thị trấn (tại khu vực nội thành, nội thị, tổ 16 chức theo khu vực dân cư đường phố). Cấp xã chịu sự quản lý trực tiếp của cấp huyện. Về vai trò, Thứ nhất, cấp xã là nền tảng của hệ thống chính trị, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện, kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Cấp xã là cấp để Đảng, chính quyền đưa chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật dễ dàng đi vào cuộc sống, trở thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển, tạo niềm tin và sự phấn khởi của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Thứ hai, cấp xã có vai trò bảo vệ, phát triển các quyền và lợi ích chính đáng của người dân, các tổ chức và cộng đồng theo quy định của pháp luật và theo các thiết chế cộng đồng tự quản. Một mặt, bảo vệ và thúc đẩy phát triển các giá trị và lợi ích riêng chính đáng, công bằng và bình đẳng. Mặt khác,kết nối được các giá trị đó thành giá trị chung của các xã, tạo động lực to lớn cho sự phát triển xã hội bền vững.
Thứ ba, cấp xã đóng vai trò quyết định cho sự phát triển đa dạng của địa phương, qua đó đóng góp vào sự thịnh vượng bền vững chung của đất nước. Nếu phát huy tốt chức năng tự quản của mình, mỗi xã sẽ là một thiết chế nhà nước có trách nhiệm với sự phát triển của địa phương. Mỗi xã sẽ phát triển theo cách riêng với thế mạnh riêng. Kết quả là sự phát triển của địa phương sẽ mang tính ổn định và bền vững cao do có nền tảng đa dạng và vững chắc từ sự phát triển của các xã.
Đội ngũ cán bộ cấp xã - khái niệm, vai trò, nhiệm vụ, đặc điểm 1. Khái niệm * Khái niệm cán bộ cấp xã Theo Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức 2008 quy định: 17 3. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. [38] Như vậy, cán bộ cấp xã là đội ngũ trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đúng theo cấp bậc lương ứng với vị trí phụ trách.
Đây là đội ngũ được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ; những người này phải là công dân Việt Nam đã được tuyển dụng theo tiêu chuẩn của pháp luật để giữ một chức danh nhất định về chuyên môn họ đăng ký ứng tuyển và sắp xếp của cơ quan có thẩm quyền. Điều 61, Luật Cán bộ, Công chức 2008 quy định, cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. [38] Cán bộ cấp xã không chỉ có những người được bố trí tại địa phương, mà còn bao gồm cả những cán bộ được cấp tỉnh, huyện điều động, luân chuyển, biệt phái về làm việc trong hệ thống chính trị cấp xã. 18 * Khái niệm đội ngũ cán bộ cấp xã Đội ngũ cán bộ là tập hợp nhóm hoặc tổng thể những cán bộ thành một lực lượng vững mạnh, đoàn kết, đáp ứng đủ cả về chất và lượng để vận hành hoạt động của hệ thống chính trị.
Từ những vấn đề trên có thể quan niệm: Đội ngũ cán bộ cấp xã là lực lượng cán bộ của Đảng và Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị cơ sở (cụ thể là cấp xã), giữ vai trò lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở cơ sở, là những cán bộ nòng cốt của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa bàn cấp xã. Cán bộ cấp xã cần đáp ứng các tiêu chuẩn chung theo Điều 3, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn: 1. Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân.
Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức kỷ luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.