phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được chia làm 4 chương, 9 tiết. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những nghiên cứu lý luận về đạo đức kinh doanh Đạo đức kinh doanh không phải là một vấn đề mới xuất hiện trong thế giới đương đại, mà những tư tưởng của nó đã có từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Khi lực lượng sản xuất còn thấp kém, phân công lao động chưa phát triển, trao đổi sản phẩm mới chỉ là bột phát do nhu cầu sinh tồn của các thành viên trong thị tộc, bộ lạc và nguyên tắc cùng làm cùng hưởng vẫn được mọi người thực hiện một cách tự nhiên thì đạo đức kinh doanh chưa xuất hiện.
Khoảng 4000 năm trước công nguyên, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới phân công lao động phát triển tạo ra ba nghề trong xã hội: chăn nuôi, thủ công, buôn bán thương mại. Trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu, sản phẩm do lao động làm ra trở thành hàng hóa, kinh doanh xuất hiện và đạo đức kinh doanh cũng ra đời. Đây cũng là thời kỳ mới của nhân loại, có mâu thuẫn đối kháng giai cấp, có bộ máy nhà nước, con người không sống “ngây thơ thuần phác” nữa, quan hệ giữa con người với con người tự nhiên dẫn tới yêu cầu đạo đức: không được trộm cắp, phải sòng phẳng trong giao thiệp “tiền trao cháo múc”, phải có chữ tín, biết tôn trọng các cam kết, thỏa thuận… Như vậy, đạo đức kinh doanh không phải xuất phát từ sự “tiên nghiệm” từ “chân lý tuyệt đối” vĩnh cửu. Đạo đức kinh doanh ra đời cùng hoạt động kinh doanh, phát triển theo từng hình thái kinh tế - xã hội, thay đổi theo từng vùng dân cư, lãnh thổ, nhất là đặc điểm phương Tây và phương Đông.
Các tr ự i trong một thời gian dài. Nhiều nội dung trong những tư tưở ến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệ các khái ni m và chuẩn mự. ) với 5 tr củ Nhân.
Nhân thể hiện biế. Nhânđược Nho giáo coi – , trí, tín. Trí là có trí tu ết người. Tín mang nghĩa chân thành, chân thực, là sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa nhận thức và hành động.
Tư tưởng pháp trị củ n ch tính “thi a ra ba khái ni , Pháp và Thu t. Pháp là Pháp lu – – trái. Pháp lu , công khai v. Thu t là ngh thu ằ thu t và tâm thu t là 6 ; trong khi tâm thu.
Đến thời Đông Chu, Phạm Lãi đã đúc kết cho bản thân và cho Thiên hạ 16 nguyên tắc kinh doanh, trong đó thể hiện các yêu cầu về chữ tín, về trung thực, tận tâm, về việc đảm bảo chất lượng hàng hóa, 16 nguyên tắc đó là: - 5 lời răn cho bản thân người kinh doanh: 1, Sinh ý yếu cầu khẩn; 2, Dụng đồ yếu tiết kiệm; 3, Dụng nhân yếu phương chính; 4, Lâm sự yếu trách nhiệm; 5, Thủ tâm yếu an ninh. - 5 yêu cầu khi tiếp xúc với khách hàng: 1, Tiếp nạp yếu khiêm hòa; 2, Dự khiếm yếu thức nhân; 3, Mãi mại yếu tùy thời; 4, Nghị quá yếu đinh ninh; 5, Kỳ hạn yếu ước định. - 3 yêu cầu đối với chất lượng hàng hóa: 1, Hóa sắc yếu diện nghiêm; 2, Ưu biệt yếu phân biệt; 3, Hóa vật yếu tu chỉnh. - 3 yêu cầu đối với quản lý tiền bạc: 1, Xuất nhập yếu cẩn thận; 2, Tiền tài yếu minh phân; 3, Trương mục yếu kiết tra.
Các phường hội thủ công thời phong kiến cũng rất quan tâm đến việc nâng cao uy tín đạo đức trong sản xuất và mua bán hàng hóa. Trong quan hệ với đối tác, người ta sẵn sàng chấp nhận những thiệt thòi hơn là để mất uy tín của phường hội. , xã h nay, trong đó có đạo đức kinh doanh. Lu ng, không nên g t hái.
, nhi ọi ngườ 7 l quan?”, “Tôi có nh ?”, “Li uh ?.” , giáo h i La Mã có lu ). các lu p, công vi c sản xuấ ng sản xuấ h p phát ng Tây. Quá trình phát triển đạo đức kinh doanh trong thời hiện đạ - công nghi - it , có thể chia làm 5 giai đoạn: m 1960 – Kinh doan ng m thu nh ng. Bên m 1930, làn sóng phê phán các công ty trong vi ch n thu nh 8 m 1950, trách nhi lu a ra bàn lu n r n lao đ ng kinh doanh, khích l v ng Tây.
– nh 9 “ ” vi ộng rãi cho các doanh nghi. – ngo a ra n c các doanh nghi n. Vi , mà liên h m t cách có h ng khái ni. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về đạo đức kinh doanh.Lewis, Đại học Abilene Christian, Hoa Kỳ, trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến 1985 trên các sách giáo khoa và tạp chí có khoảng 185 định nghĩa về đạo đức kinh doanh.
Sau khi tổng hợp các điểm chung của 185 định nghĩa, Phillip V.Lewis xác định đạo đức kinh doanh như là những quy tắc, tiêu chí, chuẩn mực để đánh giá hành vi của chủ thể kinh doanh. Ông viết: “Đạo 10 đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”. CònFerrels và John Fraedrichlại chú ý đến phương diện điều chỉnh hànhviđạođức kinh doanh đối với hành vi của chủ thể kinh doanh. Các ông cho rằng, “Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh.
Tuy nhiên, việc đánh giá một hành vi cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp lý cũng như cộng đồng”[72. 108] Đối với Việt Nam, từ khi chuyển từ cơ chế tập trung quan liêubaocấpsang cơ chế thị trường, vấn đề đạo đức kinh doanh được quan tâm chú ý nhiều hơn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức kinh doanh được thực hiện, một số giáo trình đạo đức kinh doanh được xuất bản và đưa vào giảng dạy ở một vài trường kinh tế. Những công trình đó đã đề cập và giải quyết nhiều khía cạnh của đạo đức kinh doanh.
Như trình bày ở trên, đạo đức kinh doanh với tính cách là môn khoa học thì còn mới mẻ đối với loài người. Điều này lại càng đúng với đặc điểm Việt Nam. Vì vậy, khi bàn về khái niệm đạo đức kinh doanh, những phẩm chất, chuẩn mực của nó hoặcsự cần thiết của đạo đức kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường, v. các nhà nghiên cứu ở nước ta đưa ra khá nhiều quan điểm khác nhau.
Trong hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh” do Viện kinh tế đối ngoại - Bộ thương mại (nay là Bộ Công thương) phối hợp với The ST James Ethies Centre – Australia tổ chức năm 1995, phần nhiều các bài tham luận đều bàn tới sự tác động của kinh tế thị trường tới đạo đức và vai trò của đạo đức trong kinh doanh hay sự cần thiết của việc kinh doanh có đạo đức. Tham luận “Một số ý kiến về giáo dục trong kinh doanh tại Việt Nam”, PGS. Tô Xuân Dân, giảng viên đại học Kinh tế quốc dân – Hà Nội khẳng định: “Đạo đức kinh doanh hiểu một cách đơn giản, là những qui tắc đạo đức được vận dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh, là những chuẩn mực chi phối hành vi của các nhà doanh nghiệp, là những giá trị mà người kinh doanh thừa nhận và noi theo”[70. Và “ Mục đích của nhà kinh doanh nhằm đem lại hạnh phúc cho con người, không phải chỉ cho từng cá nhân mà cho cả xã hội.
Mà hạnh phúc ở đây chính là bao gồm những giá trị đạo đức, những giá trị văn hóa của xã hội được thừa nhận và được tôn trọng”[70. Còn tham luận 11 “Một số ý kiến về đạo đức kinh doanh” của GS. Phạm Xuân Nam, PGĐ Trung tâm KHXH và NhânvănQuốc gia(nay là Viện HLKHXHViệt Nam), lại chỉ ra tiêu chuẩn hàng đầu về đạo đức của nhà doanh nghiệp là tính trung thực, theo GS: “triết lý kinh doanh của những người có lý tưởng, có đạo đức đều mang nội dung nhân bản sâu sắc, vì nó dựa trên một quan niệm đúng đắn về hạnh phúc cá nhân không thể tách rời mà gắn bó mật thiết với hạnh phúc của cộng đồng. Phải chăng đó là sự kết tinh những giá trị đạo đức trong kinh doanh”[70.
Đây là những quan điểm rất có giá trị, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đạo đức kinh doanh. Gần đây các bài báo và các công trình nghiên cứu về đạo đức kinh doanh xuất hiện ngày càng nhiều trên các báo hoặc tạp chí ở Việt Nam. Đã có nhiều giáo trình về đạo đức kinh doanh được giảng dạy trong các trường đại học. Điều này cho thấy đạo đức kinh doanh đang có được sự quan tâm của các doanh nghiệp và xã hội.
Đa số các bài viết hoặc các công trình nghiên cứu này được thực hiện bởi các nhà kinh tế hoặc các nhà quản trị doanh nghiệp. Trong đó,có thể kể đến giáo trình “ Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty” của PGS. Nguyễn Mạnh Quân, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2007; giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp” của luật gia Phạm Quốc Toản, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, năm 2007;luận văn thạc sĩ triết học “Đạo đức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường” của Lê Văn Dũng, Viện triết học, năm 1999,… Các công trình này đã có những câu trả lời cho câu hỏi đạo đức kinh doanh là gì? đồng thời cho thấy sự phát triển của đạo đức kinh doanh tronglịch sửvàchỉ ra những chuẩn mực cơ bản của đạo đức kinh doanh. Các tác giả đã góp phần làm rõ vai trò của đạo đức kinh doanh đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và nội dung đạo đức trong từng vấn đề cụ thể của kinh doanh, như: đạo đức trong thành lập doanh nghiệp, đạo đức trong hoạt động doanh nghiệp, đạo đức trong chấm dứt doanh nghiệp, đạo đức bán hàng, đạo đức trong giao tiếp kinh doanh,… Với câu hỏi đạo đức kinh doanh là gì? PGS.