CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu 1.
Khái niệm về dữ liệu đất đai và thành phần dữ liệu đất đai - Dữ liệu đất đai: là thông tin liên quan đến đất đai dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự. - Thành phần của dữ liệu đất đai: bao gồm dữ liệu địa chính, dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai. Khái niệm về cơ sở dữ liệu đất đai - Cơ sở dữ liệu đất đai: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính, dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử. Cơ sở dữ liệu đất đai được xây dựng tập trung thống nhất từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
- Cấu trúc của cơ sở dữ liệu đất đai: CSDL Quy hoạch sử dụng đất CSDL Cơ sở dữ liệu CSDL Địa chính Đất đai Giá đất CSDL Thống kê, kiểm kê Hình 1. Cấu trúc của cơ sở dữ liệu đất đai [11] PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 + Về xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Xây dựng lớp không gian đất đai nền theo đơn vị hành chính cấp xã tiến hành chuẩn hóa các lớp đối tượng của bản đồ địa chính để xây dựng dữ liệu không gian địa chính. Cơ sở dữ liệu địa chính thực hiện đồng bộ việc chỉnh lý hoàn thiện hoặc đo đạc lập mới bản đồ địa chính gắn với đăng ký, cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cho tất cả các thửa gồm các nội dung sau: - Công tác chuẩn bị; - Thu thập tài liệu; - Xây dựng dữ liệu không gian địa chính; - Xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính - Quét (chụp) giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất; - Hoàn thiện dữ liệu địa chính; - Xây dựng dữ liệu đặc tả địa chính [13]. + Về xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất Cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất là xây dựng dữ liệu không gian quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ việc chuẩn hóa bản đồ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tích hợp lên không gian đất đai nền.
+ Về xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất Cơ sở dữ liệu giá đất được xây dựng dựa trên thông tin về thửa đất và vị trí của thửa đất áp lên giá nhà nước đã công bố của hàng năm của tuyến đường mà nhà nước quy định giá đất. Ứng dụng phần mềm ArcGIS trong xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 1. Cơ sở lựa chọn phần mềm ArcGIS Dòng phần mềm ArcGIS du nhập vào Việt Nam từ những năm 90, sau các phần mềm GIS khác như MapInfo hay Geomedia. Tuy nhiên, do tính năng mạnh mẽ và nhiều công cụ hỗ trợ nên ArcGIS được bắt đầu sử dụng nhiều ở Việt Nam, đặc biệt với các hệ thống GIS lớn.
ArcGIS của ESRI là một bộ phần mềm thương mại phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, xã hội, cùng với sự phát triển của công nghệ với nền tảng là công nghệ máy tính, đồ họa, phân tích và quản lý dữ liệu không gian. Ta có thể làm bất kỳ công việc thực tế nào với quy mô khác nhau cùng GIS, từ việc xây dựng chỉ đạo một dự án phân tích đơn giản đến việc thực hiện dự án phân tích lớn. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Phần mềm ArcGIS có khả năng xây dựng, hiển thị, xử lý và phân tích các bản đồ: tạo các bản đồ từ rất nhiều các loại dữ liệu khác nhau, truy vấn dữ liệu không gian để tìm kiếm và hiểu mối liên hệ giữa các đối tượng không gian, tạo các biểu đồ, hiển thị trang in ấn. Từ đó, ArcGIS đáp ứng cho nhu cầu quản lý và truy vấn đến từng thửa đất, giúp cho người dùng dễ dàng nắm bắt hiện trạng đất đai trên địa bàn để đưa ra những quyết định phù hợp.
Giới thiệu phần mềm ArcGIS a. Khái niệm ArcGIS Desktop là một sản phẩm của Viện Nghiên cứu hệ thống môi trường (ESRI). Có thể nói đây là một phần mềm về GIS hoàn thiện nhất. ArcGIS cho phép người sử dụng thực hiện những chức năng của GIS ở bất cứ nơi nào họ muốn: trên màn hình, máy chủ, trên web, trên các field…Phần mềm ArcGIS Desktop bao gồm 3 ứng dụng chính sau: - ArcMap: để xây dựng, hiển thị, xử lý và phân tích các bản đồ.
+ Tạo các bản đồ từ rất nhiều các loại dữ liệu khác nhau. + Truy vấn dữ liệu không gian để tìm kiếm và hiểu mối liên hệ giữa các đối tượng không gian. + Hiển thị trang in ấn. - ArcCatolog: dùng để lưu trữ, quản lý hoặc tạo mới các dữ liệu địa lý + Tạo mới một cơ sở dữ liệu.
+ Khám phá và tìm kiếm dữ liệu. + Xác định hệ thống tọa độ cho cơ sở dữ liệu. - ArcToolbox : cung cấp các công cụ để xử lý, xuất – nhập các dữ liệu từ các định dạng khác như Mapinfo, MicroStation, AutoCad…[18]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Hình 1.
Các thành phần của ArcGIS [18] b. Tổ chức thông tin bản đồ trong ArcGIS - Mỗi một bản đồ trong ArcMap được gọi là Map Document, một bản đồ có thể có một hay nhiều Data Frames. Data Frame là một nhóm các lớp (Data Layer) cùng được hiển thị trong một hệ quy chiếu. Mỗi Data Frame có thể có một hệ quy chiếu riêng.
Các Data Frame được hiển thị riêng biệt trong chế độ Data View và có thể hiển thị trong cùng một Layout View. Thông thường, một bản đồ đơn giản chỉ có một Data Frame và bạn cần sử dụng nhiều Data Frame khi cần in thêm một số bản đồ phụ trên 1 mảnh bản đồ chính. Bản đồ (Map Document) được ghi trong file có đuôi là. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Hình 1.
Tổ chức thông tin bản đồ trong ArcGIS [18]. - ArcMap có chức năng Project on-the-fly cho phép thay đổi một cách nhanh chóng hệ quy chiếu của các Layer. Ví dụ như ta có một bản đồ trong hệ tọa độ VN- 2000 và nếu ta thêm vào bản đồ 1 lớp được xác định trong hệ HN-72 thì ArcMap sẽ tự động chuyển tạm thời lớp đó về hệ VN-2000 để hiển thị đúng tên bản đồ cùng với các dữ liệu khác. Bản thân các tệp tin chứa lớp vừa thêm vào thì vẫn không thay đổi, tức là vẫn trong hệ HN-72.
- Layer là tổ hợp cấp cao của dữ liệu. Một Layer File chứa các nội dung: + Đường dẫn tới dữ liệu (Shapefile, geodatabase…) + Các tham số để hiển thị như màu sắc, lực nét ký hiệu. - Các Layer có thể được tạo ra từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau như: Shape files, personal geodatabase, ArcInfo cover datasets, CAD drawings, SDE databases, photo, image. - Dữ liệu lưu trữ trong ArcGIS được lưu trữ ở 3 dạng: shapefile, coverages, geodatabase.
+ Shape files: lưu trữ cả dữ liệu không gian lẫn dữ liệu thuộc tính. Tùy thuộc vào các loại đối tượng không gian mà nó lưu trữ, Shape files sẽ được hiển thị trong ArcCatolog bằng 1 trong 3 biểu tượng sau: PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 Hình 1. Các loại đối tượng trong Shape file [18]. Về thực chất Shape file không phải là 1 file mà là 5 6 file có tên giống nhau nhưng đuôi khác nhau.
4 file quan trọng nhất của Shape file là các file có đuôi: *.shp – chứa các đối tượng không gian (Geometry) *.dbf – bảng thuộc tính *.shx – chỉ số để liên kết đối tượng với bảng thuộc tính *.prj – xác định hệ quy chiếu của shape file + Coverages: lưu trữ các dữ liệu không gian, thuộc tính và topology. Các dữ liệu không gian được hiển thị ở dạng điểm, đường, vùng và ghi chú. + Geodatabase : là một CSDL được chứa trong một file có đuôi là *. Khác với Shape file, Geodatabase cho phép lưu trữ topology của các đối tượng.
Cấu trúc của Geodatabase [18]. Trong Geodatabase có 1 hay nhiều Feature Dataset. Feature Dataset là một nhóm các loại đối tượng có chung một hệ quy chiếu và hệ tọa độ. Một Feature Dataset có thể chứa một hay nhiều Feature Class.
Feature Class chính là đơn vị chứa các đối tượng không gian của bản đồ và tương đương với một Layer trong Arcmap. Mỗi Feature Class chỉ chứa một đối tượng (Polygon – vùng, line - đường, point – điểm). Một Feature Class sẽ được gắn với 1 bảng thuộc tính (Attribute Table). Khi tạo Feature Class thì bảng thuộc tính cũng được tự động tạo[18].
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 10 1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở dữ liệu đất đai trên thế giới và Việt Nam * Thổ Nhĩ Kỳ Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các nghiên cứu về địa chính đã phát triển trong một thời gian dài song song với sự phát triển của công nghệ trong lĩnh vực địa chính. Hiện nay, bản đồ địa chính quốc gia đã được hoàn thành 100% ở khu vực đô thị và 85% ở khu vực nông thôn. Quá trình hoàn thành cơ sở hạ tầng địa chính quốc gia đã được tăng tốc nhờ sự tham gia của các đơn vị của Nhà nước và cả các đơn vị tư nhân. Mục tiêu của quá trình này là tạo ra cơ sở hạ tầng địa chính cho toàn quốc, trong đó Hệ thống thông tin địa chính phục vụ đăng ký đất đai là dự án quan trọng nhất.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án này, các chuyên gia Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã gặp phải vấn đề tương tự như ở Việt Nam, đó là bản đồ địa chính cũng được thành lập qua các thời kỳ khác nhau, các bản đồ này cũng tuân theo các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau được ban hành cho mỗi thời kỳ. Để áp dụng thống nhất theo chuẩn bản đồ địa chính cơ sở của Liên minh Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã ban hành các văn bản pháp lý nhằm đưa ra những quy định cho việc áp dụng trên.