CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU VỐN TỐI ƯU CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về cơ cấu vốn Đối với một doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh luôn cần có một lượng vốn nhất định. Nguồn vốn không chỉ là điều kiện tiền đề cho việc hình thành doanh nghiệp mà còn là yếu tố quan trọng cho việc phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong tương lai.
“Cơ cấu vốn là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của công ty”. (TCDN căn bản, TS. Nguyễn Minh Kiều, NXB Lao động xã hội 2016) Cơ cấu vốn đề cập tới cách thức mà doanh nghiệp huy động vốn để tài trợ cho các dự án. Quyết định cơ cấu vốn là vấn đề rất quan trọng đối với một doanh nghiệp vì nó không những tác động tới chi phí vốn mà còn ảnh hưởng tới thu nhập trên mỗi cổ phiếu của nhà đầu tư (EPS), khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của một công ty cổ phần.
Các nguồn tài trợ vốn Nhu cầu vốn của công ty dùng cho các dự án, đầu tư cho cơ sở vật chất hạ tầng, máy móc thiết bị, công nghệ và ngoài ra đầu tư cho các tài sản lưu động thường xuyên khác. Nhìn chung nguồn vốn tài trợ gồm 2 nguồn chính: Vốn chủ sở hữu và Nợ vay. Cụ thể các loại nguồn vốn gồm những đặc điểm sau: 1. Nợ vay Nguồn vốn này có thể đến từ nợ vay các trung gian tài chính hoặc phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn.
“Trái phiếu do doanh nghiệp phát hành giống như cam kết của công ty trong việc chi trả các khoản lãi định kì và thanh toán khoản tiền gốc vào cuối kì. Thông thường những doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn là những doanh nghiệp lớn, uy tín, nguồn thông tin về các hoạt động của doanh nghiệp được công khai trên thị trường.” 4 Do đó phương thức huy động này không phù hợp với những doanh nghiệp nhỏ hay mới thành lập. Ở Việt Nam trước năm 2000, ngân hàng gần như là kênh huy động vốn duy nhất đối với các công ty. Sau năm 2000 khi thị trường vốn phát triển hơn, phương thức huy động vốn qua phát hành trái phiếu mới được các doanh nghiệp tiếp cận.
Nếu như nguồn vốn từ nợ vay có ưu điểm thời gian huy động nhanh, có thể đáp ứng đủ nhu cầu vốn của doanh nghiệp thì nguồn vốn từ việc phát hành trái phiếu lại giúp doanh nghiệp kéo dài được thời gian trả nợ từ đó giảm áp lực tài chính. “Tuy nhiên, do thói quen và tập quán quản lý nên huy động vốn qua vay các trung gian tài chính (đặc biệt là ngân hàng) được ưu tiên và phổ biến hơn đối với các doanh nghiệp. Hai đặc điểm cơ bản của vay ngân hàng là Hạn mức tín dụng và Vay hợp nhất.” Hạn mức tín dụng: Là tổng mức tối đa mà ngân hàng sẵn sàng cho doanh nghiệp vay. Sau đó công ty có thể vay theo nhu cầu vốn của mình.
Vay hợp vốn: Về cơ bản các ngân hàng không thể tạo ra các khoản cho vay vừa đủ khớp với nguồn tiền của mình. Vì vậy nhiều ngân hàng sẽ sắp xếp khoản vay hợp vốn cho một công ty rồi bán lại một phần cho vay đó cho các ngân hàng khác. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu thường bao gồm vốn do các chủ sở hữu đóng góp vào, lợi nhuận của các chủ sở hữu nhưng chưa được phân phối, thặng dư vốn cổ phần và các quỹ. Trong công ty cổ phần, vốn chủ sở hữu tồn tại chủ yếu dưới dạng vốn cổ phần và phần lợi nhuận của các cổ đông được công ty giữ lại để tái đầu tư.
“Tuy nhiên, vốn cổ phần chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với lợi nhuận chưa phân phối, do đó trong chuyên đề chỉ taapj trung nghiên cứu về vốn cổ phần của doanh nghiệp. Vốn cổ phần có hai dạng chính: Vốn cổ phần thường và Vốn cổ phần ưu đãi. Vốn cổ phần thường Là phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong công ty cổ phần. Các cổ đông nắm giữ cổ phần thường được gọi là các cổ đông thường của công ty và được hưởng các quyền sau: 5 Quyền được chi trả cổ tức theo tỷ lệ sở hữu sau khi công ty đã chi trả cổ tức cho các trái chủ và cổ đông ưu đãi.
Quyền được chia tài sản còn lại theo tỷ lệ sở hữu sau khi công ty đã chi trả các nghĩa vụ nợ cho trái chủ và cổ đông ưu đãi. Quyền được tham gia bầu cử Hội đồng quản trị, tham gia biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty như: mua bán sáp nhập, hợp nhất. Tuy nhiên, cổ tức của cổ đông thường không cố định và việc chi trả cổ tức do công ty quyết định, không phải nghĩa vụ bắt buộc. Do đó công ty không chịu áp lực từ việc chi trả cổ tức.
Vì vậy doanh nghiệp không chịu rủi ro phá sản từ việc phát hành cổ phiếu thường. Vốn cổ phần ưu đãi Vốn cổ phần ưu đãi chiếm tỷ trọng nhỏ trong công ty. Các cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Vốn cổ phần ưu đãi là loại vốn lai vừa có tính chất vốn chủ sở hữu vừa có tính chất của nợ và có các đặc điểm cụ thể sau: “Cổ phiếu ưu đãi không có ngày đáo hạn.
Cổ đông ưu đãi được hưởng cổ tức cố định (tính chất trái phiếu) và hưởng sau trái chủ nhưng trước cổ đông thường. Cổ tức ưu đãi được trả sau khi trả thuế (trái ngược với trái phiếu) do đó không được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp.” Quyền được chia tài sản còn lại sau trái chủ và trước các cổ đông thường. Sở hữu một phần công ty theo tỷ lệ nắm giũa cổ phiếu (tính chất vốn chủ sở hữu) nhưng không được quyền tham gia bầu cử Hội đồng quản trị và các quyết định chính sách của công ty. “Do việc chi trả cổ tức ưu đãi cố định nên trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, lợi nhuận tăng đột biến, các cổ đông thường sẽ có lợi hơn cổ đông ưu đãi do phần chi trả cổ tức còn lại sau khi chi trả cổ tức ưu đãi sẽ cao hơn.” Ngoài ra, việc chi trả cổ tức ưu đãi do công ty quyết định và không phải nghĩa vụ buộc giống như cổ phiếu thường.
Ưu nhược điểm các loại nguồn vốn Nhìn chung, mỗi loại nguồn vốn đều có ưu và nhược điểm riêng.1 dưới đây tóm tắt những ưu điểm và nhược điểm của từng loại nguồn vốn.1: So sánh các loại nguồn vốn Loại nguồn vốn Ưu điểm Nhược điểm Nợ -“Được hưởng lợi ích -Áp lực tài chính từ từ tấm lá chắn thuế.” việc trả lãi định kì và -“Có thể dùng đòn bẩy trả gốc vay. Tăng rủi tài chính để khuếch đại ro phá sản của doanh lợi nhuận cho các cổ nghiệp. đông thông qua ROE.” -Ảnh hưởng tới các chỉ số khả năng thanh toán, cơ cấu vốn và giảm chất lượng tín dụng. Cổ phần ưu đãi -“Không chịu áp lực -“Cổ tức trả sau thuế trả vốn gốc.” nên không tận dụng -“Không bắt buộc phải được lá chắn thuế.” chi trả cổ tức.” -Khó huy động được nguồn vốn lớn cho doanh nghiệp.
Cổ phần thường -“Không phải trả vốn -“Không tận dụng tấm gốc.” -“Không bắt buộc việc -“Doanh nghiệp có thể chi trả cổ tức.” không huy động đủ số vốn cần thiết từ việc phát hành cổ phiếu thường.” 7 -“Bị phân chia phiếu bầu và ảnh hưởng đến việc quản lý của công ty.” Nguồn: TCDN Căn bản, TS.Nguyễn Thị Minh Kiều- Sinh viên tự tổng hợp Nhà quản trị sẽ dựa vào đặc điểm doanh nghiệp, nhu cầu huy động vốn của công ty, ưu nhược điểm của từng loại nguồn vốn cũng như dòng tiền trong tương lai của công ty (để trang trải các loại nguồn vốn) để đưa ra quyết định. Tuy nhiên việc xác định chi phí từng loại nguồn vốn là nền tảng cơ sở để nhà quản trị so sánh các loại nguồn vốn và đưa ra quyết định về cơ cấu vốn cuối cùng. Các chỉ số đo lường cơ cấu vốn Hệ số nợ: Tổng nợ Hệ số nợ = Tổng tài sản “Hệ số này cho biết mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp phải chịu bao nhiêu đồng nợ. Tỷ số này càng cao càng cho thấy doanh nghiệp sử dụng nợ nhiều và phải đối mặt với sức ép tài chính từ việc trả nợ cao.
Ngược lại tỷ số này thấp cho thấy chất lượng tín dụng của doanh nghiệp được nâng cao, chịu ít gánh nặng từ nợ vay. Tuy nhiên nếu tỷ số này quá thấp, doanh nghiệp sử dụng ít nợ sẽ không tận dụng được lá chắn thuế và sức mạnh từ đòn bẩy tài chính để khuếch đại ROE. Vì vậy nên so sánh chỉ số này với trung bình ngành để đưa ra đánh giá khách quan.” Hệ số nợ ngắn hạn: Nợ ngắn hạn Hệ số nợ ngắn hạn = Tổng nguồn vốn Hệ số nợ ngắn hạn cho biết trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp chứa bao nhiêu % nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn gồm các khoản trả nợ vay trung gian tài chính hay 8 những khoản nợ chiếm dụng được từ người bán, khách hàng và thường có thời gian huy động dưới 1 năm.
Thông thường nhà quản trị sẽ quan tâm tới quản lý tới nợ ngắn hạn hơn do đây là những khoản nợ có thời gian đáo hạn ngắn. Hệ số này cao hay thấp phụ thuộc nhiều và đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ số nợ dài hạn: Nợ dài hạn Hệ số nợ dài hạn = Tổng nguồn vốn “Giống như hệ số nợ ngắn hạn, hệ số nợ dài hạn cho biết doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu % nguồn nợ dài hạn trong tổng nguồn vốn. Nợ dài hạn sẽ có chi phí huy động cao hơn so với nợ ngắn hạn do đó hệ số này càng cao doanh nghiệp càng tăng áp lực tài chính đối với việc trả nợ và lãi vay.
Tuy nhiên, bù lại nợ dài hạn giúp doanh nghiệp có thời gian dài hơn trong việc trả nợ.” Hệ số tự tài trợ: VCSH Hệ số tự tài trợ = Tổng nguồn vốn Hệ số tài trợ giúp đánh giá được khả năng tự chủ trong nguồn vốn của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này cao, gần tới 1, cho thấy doanh nghiệp sử dụng chủ yếu vốn chủ sở hữu và ít sở dụng nợ vay từ đó giảm gánh nặng tài chính.