CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về cấu trúc vốn doanh nghiệp: 1.1 Cơ cấu vốn cảu doanh nghiệp: a. Khái niệm và đặc trưng cơ cấu vốn Vốn là điều kiện tiên quyết để cho doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế có thể ra đời và hoạt động. Một doanh nghiệp có thể dung vốn ngắn hạn hay dài hạn, đi vay nợ hay tăng vốn chủ sở hữu.nó tùy thuộc vào các yếu tố như ngành nghề kinh doanh, lịch sử doanh nghiệp… Do vậy, doanh nghiệp cần phải xem xét , tính toán nghiên cứu chi phí của từng nguồn vốn cụ thể, từ đó xác định cho mình một cơ cấu vốn phù hợp trong từng điều kiện, từng giai đoạn cụ thể của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp được hiểu là tỷ lệ nợ vay trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp , vì thông thường khoản phải trả khá lớn trong phần nợ phải trả của các doanh nghiệp.
Sự khác biệt giữa nợ và vốn chủ sở hữu được thể hiện trên nhiều khía cạnh ( xem bảng 1.1) Lớp : KTTH K51 Nghiên cứu khoa học 4 GVGD: Phan Lê Như Thủy Bảng 1. So sánh nợ và vốn chủ sở hữu Tiêu chí Nợ Vốn chủ sở hữu Không có thời hạn hoàn 1.Thời hạn thanh toán Có thời hạn hoàn trả trả Không phải trả lãi mà chia Phải trả lãi cho khoản lời tùy theo kết quả hoạt tiền đã vay, trừ các khoản động kinh doanh và chính nợ chiếm dụng.Trách nhiệm thanh toán sách phân phối lợi nhuận. Doanh nghiệp sẽ bị phá Doanh nghiệp không bị sản nếu không thanh toán phá sản nếu không chia lãi được nợ và lãi cho chủ sở hữu Lãi vay được tính vào chi phí khi xác định lợi nhuận Lợi nhuận chia cho chủ sở 3.Ảnh hưởng đến thuế thu chịu thuế thu nhập, do hữu không làm giảm thuế nhập doanh nghiệp vậy, lãi vay có tác động thu nhập doanh nghiệp. làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cao hơn chi phí sử Chi phí thấp hơn so với dụng nợ vì rủi ro của chủ chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cao hơn so với chủ sở hữu vì: nợ, cụ thể như sau: -Rủi ro đối với chủ nợ -Chủ sở hữu được chia lợi 4.Chi phí sử dụng vốn thấp hơn.
nhuận sau khi trả lãi vay -Nợ vay tạo ra lá chắn và nộp thuế. thuế nên gánh nặng lãi -Trong trương hợp giải vay thực tế doanh nghiệp thể, phá sản thì họ được phải chịu thấp hơn. xếp thứ tự ưu tiên cuối cùng khi phân chia tài sản thanh lý. Lớp : KTTH K51 Nghiên cứu khoa học 5 GVGD: Phan Lê Như Thủy Đặc trưng cơ bản của cơ cấu vốn doanh nghiệp - Được cấu thành bởi vốn dài hạn, ổn định, thường xuyên trong doanh nghiệp.
- Đây là số vốn chủ yếu được dung để tài trợ cho các quyết định đầu tư dài hạn. - Việc lựa chọn cơ cấu vốn hợp lý có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Huy động vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn chủ sở hữu Theo Lưu Thị Hương(2002) nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp. Tùy theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu khác nhau ( doanh nghiệp Nhà nước thì chủ sở hữu là Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần thì chủ sở hữu là người góp vốn, vốn cổ phần…).
Đối với doanh nghiệp cổ phần, khi doanh nghiệp mới được thành lập thì vốn chủ sở hữu do các thành viên đóng góp và hình thành vốn điều lệ. Khi một doanh nghiệp hoạt động thì nhu cầu vốn phát sinh, ngoài vốn điều lệ còn có một số nguồn vốn khác cũng thuộc nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn cổ phần, lợi nhuận không chia, các quỹ của doanh nghiệp (bao gồm quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính…). Trong đó, lợi nhuận không chia và các quỹ của doanh nghiệp đều thuộc nguồn vốn chủ sở hữu bên trong doanh nghiệp. Do vậy, khi xem xét nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tập trung vào nguồn vốn do huy động từ việc phát hành cổ phiếu.
Cổ phiếu là một loại chứng khoán thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn đối với doanh nghiệp. Có hai loại cổ phiếu: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi và người sở hữu gọi là cổ đông. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được hưởng chi trả cổ tức với tỷ lệ doanh nghiệp cam kết khi phát hành và thu nhập thặng dư nếu doanh nghiệp kinh doanh có lãi hơn dự kiến. Cổ phiếu ưu đãi là cổ phiếu có đặc tính ưu đãi hơn cổ phiếu thường như ưu đãi về quyền bỏ phiếu, ưu tiên trong chi trả cổ tức… Do vậy cổ phiếu ưu đãi phát hành Lớp : KTTH K51 Nghiên cứu khoa học 6 GVGD: Phan Lê Như Thủy chủ yếu do người sang lập hay đối tượng đặc biệt để tránh nguy cơ thôn tính hay sáp nhập doanh nghiệp.
Ngoài ra, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được chi trả cố định- trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động không đủ để chi trả cổ tức ưu đãi thì phải có trách nhiệm chi trả vào năm sau nếu có lãi. Cổ phiếu của doanh nghiệp có giá trị có thể trao đổi mua bán trên thị trường mở hoặc thị trường giao dịch tập trung (TTCK). Giá cổ phiếu trên thị trường liên tục thay đổi tùy thuộc vào tỷ lệ cung- cầu, sự sẵng lòng của nhà đầu tư và các yếu tố vĩ mô khác. Đối với thị trường tài chính vận hành hiệu quả, thị trương cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phần được xem như một công cụ để đánh giá giá trị các doanh nghiệp.
Theo chuẩn mực kế toán (2006): Cổ tức trả cho cổ đông là phần lợi nhuận sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, nên việc tăng vốn bằng chủ sở hữu sẽ tạo khả năng tự chủ tài chính cho doanh nghiệp(nếu doanh nghiệp không có lãi thì không phải trả cổ tức cho các cổ đông), nhưng đồng thời doanh nghiệp không được hưởng miễn trừ thuế thu nhập do việc trả cổ tức là từ lợi nhuận sau thuế. Đứng trên góc độ của nhà đầu tư cổ phiếu doanh nghiệp sẽ rủi ro hơn về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chính vì thế họ kỳ vọng lợi nhuận thu lại cao hơn lãi suất cho vay nợ(gửi tiền ngân hàng hoặc mua trái phiếu chính phủ), nên chi phí sử dụng vốn cổ phần cao hơn sử dụng nợ vay. Các khoản nợ vay Khoản nợ vay là một khoản nợ được tạo ra khi một người cho vay đồng ý cho người đi vay vay một lượng tài sản nhất định, và người cho vay thường yêu cầu người đi vay trả lãi trong thời gian vay. Trong trường hợp này, người đi vay sẽ cam kết trả lãi thường xuyên và trả nợ gốc, những trách nhiệm nào là hữu hạn khi khoản nợ kết thúc.
Vì vậy, người cho vay(chủ nợ) không được xem là chủ doanh nghiệp nên thường thì họ không có quyền biểu quyết hay các quyền khác trong nội bộ doanh nghiệp. Dựa vào tính chất kỳ hạn, nợ vay của doanh nghiệp được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Lớp : KTTH K51 Nghiên cứu khoa học 7 GVGD: Phan Lê Như Thủy Nợ ngắn hạn Theo luật kế toán Việt nam (2003): Nợ ngắn hạn là khoản vay có thời hạn dưới một năm, bao gồm các khoản nợ ngắn hạn ngân hàng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải thanh toán cho cán bộ công nhân viên, các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước và khoản vay ngắn hạn khác. Theo nguyên tắc giảm thiểu rủi ro trong thanh toán thì nợ ngắn hạn được huy động để bổ sung nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, đầu tư vào tài sản ngắn hạn có vòng quay vốn ngắn.
Vay ngắn hạn ngân hàng Vay ngắn hạn ngân hàng thường được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu chi trả cho doanh nghiệp. Sự thiếu hụt này có thể do sự chênh lệch về thời gian và doanh số giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra tại doanh nghiệp. Do đó, nhu cầu tài trợ ngắn hạn cho doanh nghiệp cũng chia ra làm 2 loại : nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên(do đặc điểm luân chuyển vốn của doanh nghiệp) và nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ(do đặc điểm thời vụ của ngành king doanh). Hiện nay các ngân hàng cấp tín dụng ngắn hạn cho các doanh nghiệp bằng hai phương pháp phổ biến; cho vay theo món và vay theo hạn mức.
Thông thường, vay ngắn hạn có điều kiện vay tương đối đơn giản, lãi suất vay thấp hơn so với vay dài hạn, tuy nhiên trên thực tế chi phí tiếp cận vốn vay ( chi phí giao dịch) đẩy chi phí vay vốn ngắn hạn tăng. Tín dụng nhà cung cấp(tín dụng thương mại) Khác với tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại là nguồn vốn được hình thành trên cơ sở hàng hóa- có nghĩa là khi bên bán và bên mua thỏa thuận được các điều kiện trong hợp đồng, bên bán đồng ý cho bên mua trả chậm lại tiền mua hàng. Trên cơ sở đó, bên mua không phải trả chi phí như lãi suất vay, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tiếp cận với nguồn vốn này, vì khi nhà cung cấp cấp tín dụng cho doanh nghiệp, họ phải đối mặt với rủi ro không thu hồi được nợ, cũng như Lớp : KTTH K51 Nghiên cứu khoa học 8 GVGD: Phan Lê Như Thủy chi phí đòi nợ, do vậy chỉ những doanh nghiệp chứng minh được tình hình tài chính lành mạnh và có khả năng trả nợ mới tiếp cận được nguồn vốn này. Các khoản thanh toán Nhà nước Theo luật doanh nghiệp (2005): Các doanh nghiệp đều phải nộp những khoản thuế theo quy định của pháp luật Nhà nước ban hành bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tiền thu từ việc sử dụng vốn ngân sách( đối với doanh nghiệp sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước cấp- doanh nghiệp Nhà nước), thuế thu nhập doanh nghiệp.
Các khoản phải nộp Nhà nước là thuế và các chi phí mà doanh nghiệp phải nộp Nhà nước nhưng doanh nghiệp chưa nộp. Các doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính, vì đây là nguồn vốn không có chi phí nhưng khi tân dụng nó uy tín doanh nghiệp bị giảm sút, làm tăng sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước.