CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUÔN KHỔ CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT LINH HOẠT 1. Cơ sở lý luận về khuôn khổ chính sách mục tiêu lạm phát 1. Lịch sử hình thành 1. Chính sách tiền tệ mục tiêu tỷ giá cố định Theo đuổi CSTT mục tiêu tỷ giá được hiểu là việc một quốc gia ấn định tỷ giá của đồng tiền quốc gia đó với đồng tiền (hay giỏ tiền tệ) của một (hay nhiều) nước lớn, có tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định, thông qua đó giúp neo giữ kỳ vọng lạm phát của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, khuôn khổ này còn cung cấp một quy tắc tự động trong điều hành CSTT của NHTW. Theo đó, khi đồng nội tệ mất giá, CSTT sẽ được điều chỉnh theo hướng thắt chặt và ngược lại. Chính vì sự đơn giản và dễ hiểu của nó mà cơ chế mục tiêu tỷ giá có lịch sử phát triển khá dài và được áp dụng rộng rãi trong quá khứ. Trong suốt những năm 1950 và 1960, hầu hết các NHTW trên thế giới đều quy định ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền là mục tiêu hàng đầu, trong khi ổn định giá cả chỉ là mục tiêu thứ yếu.
Tuy đã góp phần giúp NHTW các nước kiểm soát được lạm phát, việc áp dụng CSTT mục tiêu tỷ giá cũng mang lại nhiều bất lợi. Thứ nhất, CSTT mất đi tính độc lập do phải thường xuyên thắt chặt hay nới lỏng theo diễn biến ra vào của dòng vốn quốc tế. Thứ hai, không những mất đi khả năng phản ứng với những cú shock ngắn hạn, CSTT mục tiêu tỷ giá còn trở thành cơ chế truyền dẫn trực tiếp tác động từ những cú shock ở các quốc gia có đồng tiền được neo vào (như Mỹ) tới quốc gia theo đuổi khuôn khổ này. Thứ ba, việc duy trì tỷ giá cố định khiến hệ thống tài chính quốc gia trở thành đối tượng của các cuộc tấn công tiền tệ (như ở Thái Lan), mà hậu quả của Nguyễn Khương Duy Học viện Ngân hàng 10 nó là sự đảo chiều dòng vốn quốc tế, dự trữ ngoại hối cạn kiệt và nguy cơ sụp đổ của hệ thống tài chính.
Thực tiễn đã chứng kiến vài cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán diễn ra trong thời kỳ này và các quốc gia như Anh, Pháp và các nước châu Âu dần từ bỏ cơ chế tỷ giá cố định của mình. Chính sách tiền tệ mục tiêu cung tiền Động lực đi tìm một cái neo danh nghĩa thay thế được thôi thúc ở các nước công nghiệp hóa sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ và lạm phát thế giới tăng mạnh trong những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ 20. Với cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, các quốc gia dần chuyển sang khuôn khổ CSTT mục tiêu cung tiền. Hàm ý của khuôn khổ này là lấy mức cung tiền làm mục tiêu trung gian để kiểm soát và đạt được các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế.
Tới lượt nó, điều này phụ thuộc vào khả năng kiểm soát quy mô và thành phần tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế của NHTW và mối liên hệ chặt chẽ giữa cung tiền với sản lượng và giá cả. Tuy tỏ ra linh hoạt hơn so với khuôn khổ mục tiêu tỷ giá bởi NHTW có nhiều “room” hơn trong việc chống đỡ với các cú shock của nền kinh tế, giúp kiểm soát tình hình lạm phát, CSTT mục tiêu cung tiền trong quá trình áp dụng đã phải đối mặt với nhiều hạn chế. Thứ nhất, những phát kiến tài chính và quá trình phi thể chế hóa đã thay đổi cách thức nắm giữ tài sản tài chính của công chúng, dẫn tới những bất ổn trong hàm cầu tiền, làm lung lay mối quan hệ giữa mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng. Thứ hai, khả năng kiểm soát cung tiền của NHTW càng trở nên kém hiệu quả trong bối cảnh sự xuất hiện ngày càng nhiều các công cụ tài chính có khả năng đóng vai trò chức năng thanh toán, cùng với tình trạng đô la hóa và khả năng tạo tiền từ tiền gửi của Chính phủ.
Chính vì vậy, sau một thời gian áp dụng, các quốc gia lại tiếp tục đi tìm neo danh nghĩa khác cho khuôn khổ CSTT của mình. Nguyễn Khương Duy Học viện Ngân hàng 11 1. Chính sách tiền tệ mục tiêu lạm phát Với nhận thức rằng “không phải NHTW các nước đã vứt bỏ cung tiền, mà chính cung tiền đã bỏ rơi các NHTW” (John Crow, nguyên Thống đốc NHTW Canada), các nhà hoạch định CSTT đã đặt dấu hỏi lớn về cách tiếp cận điều hành trước đây – kiểm soát các mục tiêu trung gian nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng. Và như một tất yếu khách quan, chính sách tiền tệ mục tiêu lạm phát (IT) ra đời là sản phẩm của một sự “phá lệ” trong tư duy điều hành – sử dụng mọi nguồn lực để đạt được mục tiêu lạm phát.
Được tiên phong áp dụng bởi NHTW New Zealand (tháng 7/1989), lần lượt sau đó là Canada (tháng 2/1991) và Anh (tháng 10/1992) rồi một loạt các quốc gia khác trên thế giới (tổng cộng 27 quốc gia tại thời điểm 2012), IT đã trở thành khuôn mẫu mới cho các NHTW trên thế giới. Không những thế, hiện nay còn có nhiều NHTW các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản…đã vận dụng nhiều nội dung của cơ chế này. Khái niệm, đặc điểm và kỹ thuật vận hành Khái niệm “IT là một chiến lược CSTT gồm 5 thành tố chính: i) công bố với công chúng mục tiêu lạm phát trung hạn định lượng cụ thể; ii) cam kết thể chế coi ổn định giá cả là mục tiêu tối thượng của CSTT; iii) chiến lược thông tin toàn diện, sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có để thiết lập công cụ chính sách; iv) tăng tính minh bạch của chiến lược CSTT thông qua cơ chế đối thoại và truyền thông với công chúng và thị trường về các kế hoạch, mục tiêu và các quyết định chính sách của NHTW và v) tăng cường trách nhiệm giải trình của NHTW về thực hiện mục tiêu lạm phát” (Mishkin, 2000). Đặc điểm Thứ nhất, bản chất nổi bật của chính sách mục tiêu lạm phát là sự công khai và cam kết đạt được mục tiêu ổn định giá cả trong trung hạn của NHTW như là mục tiêu duy nhất.
Theo đuổi mục tiêu này, vì thế, đồng nghĩa với việc Nguyễn Khương Duy Học viện Ngân hàng 12 các mục tiêu vĩ mô khác chỉ đóng vai trò thứ yếu trong trật tự ưu tiên của NHTW. Điều này, tới lượt nó, cho phép CSTT tập trung vào mục tiêu ổn định và có khả năng phản ứng với các cú sốc của nền kinh tế trong ngắn hạn. Thứ hai, mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát không phải là quá quan trọng trong việc đạt được mục tiêu trong IT. Nói cách khác, chiến lược này cho phép sử dụng mọi nguồn thông tin để có được hệ thống công cụ tốt nhất cho CSTT.
Thứ ba, với cơ chế giải trình minh bạch, tăng cương đối thoại với công chúng và trách nhiệm giải trình, IT làm giảm nhẹ áp lực chính trị cho yêu cầu mở rộng CSTT, đồng thời tập trung giải quyết các vấn đề mà CSTT có thể làm trong dài hạn (ổn định tiền tệ) hơn là những việc không thể làm (tăng trưởng, công ăn việc làm hay năng lực cạnh tranh. Kỹ thuật vận hành Một là, mức độ độc lập của sẽ quyết định chủ thể thiết lập mục tiêu lạm phát là NHTW, Chính phủ hay có sự tham gia của cả hai bên. Hai là, NHTW có nghĩa vụ công bố công khai mức lạm phát mục tiêu (lạm phát cơ bản hoặc lạm phát tổng thể) và cam kết đạt được mục tiêu này trong một khoảng thời gian nhất định, hàng năm hay trong trung hạn, tùy vào mức độ chênh lệch giữa lạm phát hiện tại với mức mục tiêu. Ba là, hệ thống công cụ CSTT được phối hợp sử dụng nhằm đạt được mục tiêu lạm phát trong đó tiêu biểu là xây dựng và vận hành khung lãi suất.
Bốn là, NHTW phải báo cáo định kỳ về các quyết định chính sách của mình, cũng như những đánh giá về môi trường lạm phát cũng như triển vọng đạt được mục tiêu thông qua các mô hình dự báo. Năm là, khi thất bại trong việc đạt được mục tiêu lạm phát, NHTW phải có nghĩa vụ giải trình và đưa các giải pháp cụ thể để đạt được mức mục tiêu đó. Nguyễn Khương Duy Học viện Ngân hàng 13 1. Lợi thế và bất lợi Lợi thế Thứ nhất, IT cung cấp neo danh nghĩa cho CSTT và kỳ vọng lạm phát.
Thứ hai, IT không đòi hỏi mối quan hệ ổn định giữa cung tiền và lạm phát, điều này hàm ý rằng NHTW dựa trên toàn bộ thông tin có sẵn để xây dựng CSTT. Thứ ba, IT giải quyết thành công vấn đề độ trễ chính sách. Bởi lẽ, mục tiêu lạm phát thường mang tính trung hạn, những dao động trong ngắn hạn so với ngưỡng mục tiêu là có thể chấp nhận được và không nhất thiết làm suy giảm lòng tin của thị trường. Thứ tư, IT tận dụng triệt để việc công bố thông tin và chiến lược truyền thông, nâng cao trách nhiệm và tính minh bạch trong điều hành.
Điều này tạo được niềm tin và sự hỗ trợ cao từ công chúng. Bất lợi Thứ nhất, mục tiêu lạm được cam kết quá chặt sẽ làm cho tỷ lệ tốc độ tăng trưởng kinh tế không những suy giảm mà còn trở nên biến động. Thứ hai, mức độ cam kết cao trong một môi trường bất ổn dễ làm cho NHTW trở nên “thất hứa” đối với công chúng khi không đạt được mục tiêu. Thứ ba, IT đòi hỏi sự nhất quán và phối hợp cao giữa chính sách tài khóa và CSTT, đặc biệt trong điều kiện các nước mới nổi khi một số loại giá thuộc đối tượng kiểm soát của Chính phủ chiếm tỷ trọng cao trong giỏ hàng hóa tiêu dùng.
Điều này không phải lúc nào cũng trong tầm kiểm soát của NHTW. Thứ tư, mức rủi ro của việc theo đuổi mục tiêu khá cao khi chính sách chi tiêu công có thể triệt tiêu những cố gắng của NHTW. Yêu cầu một chính sách tài khóa thận trọng nhất quán với mục tiêu kiểm soát chỉ số giá là không dễ dàng và đôi khi các quyết định của Chính phủ còn xung đột với mục tiêu CSTT. Nguyễn Khương Duy Học viện Ngân hàng 14 1.
Các điều kiện áp dụng Thứ nhất, NHTW phải được độc lập, ít nhất là độc lập về công cụ. Nói cách khác, NHTW được tự do lựa chọn tất cả các công cụ phù hợp để đạt được mục tiêu lạm phát đề ra. Thứ hai, thể chế tài khóa phải vững mạnh.