Chương 1 CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ (CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ) - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát chung về Chính phủ điện tử 1. Những vấn đề cơ bản về Chính phủ điện tử 1.Khái niệm Chính phủ điện tử Trong tiếng Anh, thuật ngữ Electronic Government, được dịch là Chính phủ điện tử hay Chính quyền điện tử. Ở nước ta, cấp Trung ương, người ta thường dùng thuật ngữ Chính phủ điện tử, còn ở địa phương người ta thường dùng thuật ngữ Chính quyền điện tử.
Hay nói cách khác, Chính quyền điện tử là khái niệm dùng để chỉ việc xây dựng Chính phủ điện tử ở địa phương. Xét về bản chất, hai thuật ngữ này là đồng nhất. Khởi đầu với quá trình cải cách hành chính được diễn ra vào những năm 70 của Thế kỷ XX ở các nước phát triển. Tiếp theo là quá trình Chính phủ các nước đã ứng dụng mạnh mẽ CNTT vào hoạt động của các cơ quan Chính phủ.
Khái niệm Chính phủ điện tử đã ra đời từ những năm 90 cùng với những khái niệm khác như thương mại điện tử, doanh nghiệp điện tử. Vào những năm 1995-2000 Chính phủ điện tử đã được các nước tiếp thu và ứng dụng rộng rãi, thúc đẩy và ngày càng được các nước coi như một giải pháp hứu hiệu để tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan Chính phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Cho đến nay, CPĐT vẫn tiếp tục được các nước thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, ngày càng sâu rộng hơn, các nước đã coi phát triển CPĐT là bắt buộc. Ngày nay với sự bùng nổ của các phương tiện di động, băng rộng, công nghệ.
nên nhiều nước đã đẩy mạnh phát triển CPĐT đa dạng hơn, liên thông hơn dưới khái niệm Chính phủ di động (m-government), CPĐT thế hệ 2 (e-government 2.0), Chính phủ ở mọi lúc, mọi nơi và trên mọi phương tiện (ubiquitous government). Đã có rất nhiều tổ chức và Chính phủ đưa ra định nghĩa về “Chính phủ điện tử”. Tuy nhiên, hiện chưa có một định nghĩa thống nhất về CPĐT, hay nói cách khác, hiện không có một hình thức CPĐT được áp dụng giống nhau cho các nước, cụ thể: - Theo Liên Hợp quốc định nghĩa: 7 Chính phủ điện tử là khái niệm về các cơ quan chính phủ sử dụng công nghệ thông tin như mạng diện rộng, internet, các phương tiện di động để quan hệ với người dân, với doanh nghiệp và bản thân các cơ quan chính phủ.[36] - Theo Ngân hàng thế giới (World Bank) cũng định nghĩa: Chính phủ điện tử là việc các cơ quan của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống CNTT-TT để thực hiện quan hệ với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, nhờ đó giao dịch của Chính phủ với người dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng. Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí .[36] Hiện đây là hai khái niệm được thừa nhận rộng rãi và được nhìn nhận theo chiều thuận của quá trình chuyển đổi mạnh mẽ của các Chính phủ, nhà nước từ phương thức cai trị sang phục vụ với việc sử dụng hệ thống thông tin điện tử, cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp.
- Theo Bộ Thông tin và Truyền thông: “CPĐT là chính phủ ứng dụng CNTT-TT nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan Chính phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn” .[37] - Theo Sally Katzen, Phó Giám đốc điều hành cơ quan quản lý ngân sách thời Tổng thống Bill Clinton thì “Chính phủ điện tử là việc người dân và doanh nghiệp có thể truy cập thông tin và sử dụng dịch vụ Chính phủ 24/24 giờ, 7 ngày mỗi tuần. Chính phủ điện tử chủ yếu dựa vào các cơ quan Chính phủ sử dụng Internet và và công nghệ tiên tiến khác để nhận và cung cấp thông tin, dịch vụ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và rẻ hơn” (Nguồn: http: //www. Đây là một định nghĩa ngắn gọn nhưng lại chỉ ra được sự khác biệt giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ truyền thống. - Định nghĩa của Nhóm nghiên cứu về Chính phủ điện tử trong một thế giới phát triển: Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy Chính phủ một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truy cập tới các dịch vụ của Chính phủ, cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin và làm cho Chính phủ có trách 8 nhiệm với công dân.
Chính phủ điện tử có thể bao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâm cộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác. [36] Qua một số các định nghĩa về Chính phủ điện tử kể trên, mặc dù có sự khác nhau, qua đó cũng có thể hiểu một cách đơn giản nhất về Chính phủ điện tử như sau: CPĐT là sự ứng dụng CNTT-TT để đổi mới tổ chức, đổi mới quy tắc hoạt động, nhằm tăng cường năng lực của Chính phủ, làm cho Chính phủ hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin và dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, các tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước. [38] CPĐT là tên gọi của một Chính phủ mà mọi hoạt động của Nhà nước được “điện tử hóa”, “mạng hóa”. Tuy nhiên, CPĐT không đơn thuần là máy tính, mạng internet mà là sự đổi mới toàn diện các quan hệ (đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền với công dân) - từ cai trị sang phục vụ, đổi mới các nguồn lực, các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động của Chính quyền Trung ương và địa phương, ngay cả các quan niệm về các hoạt động đó.
CPĐT không phải là một thực thể mà CPĐT thực chất là một công cụ, một cách thức làm việc để phục vụ người dân tốt hơn, hiệu quả hơn, giúp Chính phủ hoạt động minh bạch hơn. Các dạng giao dịch trong Chính phủ điện tử Tham gia CPĐT gồm 3 chủ thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở các mối quan hệ giữa các chủ thể trên có 4 dạng giao dịch CPĐT bao gồm: - G2C (Government to Citizens – Chính phủ với Công dân): Được hiểu như khả năng giao dịch và cung cấp dịch vụ của chính phủ trực tiếp cho người dân: + Các thông tin phổ biến đến người dân là thông tin về cơ quan Chính phủ, thông tin về các quy định, chính sách, pháp luật.giúp người dân hiểu biết tốt hơn về cơ quan hành chính và công việc của cơ quan hành chính, cũng như trợ giúp họ thực hiện tốt các dịch vụ hành chính 9 + Các dịch vụ chính quyền thường cung cấp cho người dân: Làm giấy khai sinh, khai tử, kết hôn, giấy phép lái xe, đăng ký quyền sở hữu nhà ở,. cũng như các dịch vụ trợ giúp cho người dân trong giáo dục, bảo vệ sức khỏe và chữa bệnh.
+ Các dịch vụ mà người dân thường phục vụ cho cơ quan hành chính: Khai thuế thu nhập, nộp tiền phạt, thay đổi nơi ở. Tiến tới người dân tham gia vào các công việc của cơ quan hành chính trong việc xây dựng chính sách, ra các quyết định, tham gia bầu cử trực tuyến. Đối với CPĐT, việc cung cấp thông tin, dịch vụ cho người dân có thể được thực hiện ngoài giờ hành chính, tiến tới thực hiện 24h trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả 365 ngày trong năm. Các hình thức thực hiện dịch vụ ngày càng phải được cải thiện và tiến tới thực hiện trên nhiều phương tiện, ở bất cứ nơi đâu thuận lợi cho doanh nghiệp.
- G2B (Government to Businness – Chính phủ với Doanh nghiệp): Dịch vụ và quan hệ chính phủ đối với các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. Đây là một cấp độ được kỳ vọng nhất của bất cứ đề án CPĐT nào. Có nhiều hoạt động trực tuyến có thể được kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp và Chính phủ từ mức độ chuyên nghiệp như: dịch vụ mua sắm, thanh tra, giám sát doanh nghiệp , thông tin về quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị, đấu thầu, xây dựng …cho đến những ứng dụng đơn giản như đăng ký kinh hoanh, cấp phép đầu tư … cho các doanh nghiệp + Các cơ quan hành chính cung cấp thông tin cho doanh nghiệp: thông tin về quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị, đấu thầu, xây dựng, cung cấp thông tin dạng văn bản, hướng dẫn sử dụng, quy định, thi hành chính sách nhà nước. cho các doanh nghiệp.
+ Các dịch vụ Chính phủ thực hiện cho các doanh nghiệp thường là: làm mới và gia hạn các loại giấy phép lái xe, các chứng nhận, thanh tra và kiểm tra đóng thuế, tuân thủ pháp luật… + Các dịch vụ mà các doanh nghiệp thực hiện cho các cơ quan Chính phủ: Nộp thuế, cung cấp thông tin thống kê kinh doanh, cung cấp thông tin về tham gia đấu thầu, mua bán trực tuyến… 10 Cả Chính phủ và các doanh nghiệp cải thiện dần mối quan hệ giữa chính quyền và tư nhân, thiết lập mối quan hệ hợp tác trợ giúp chính quyền - doanh nghiệp trong Chính quyền điện tử. Đối với CPĐT, việc cung cấp thông tin, dịch vụ cho người dân có thể được thực hiện ngoài giờ hành chính, tiến tới thực hiện 24h trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả 365 ngày trong năm. Các hình thức thực hiện dịch vụ ngày càng phải được cải thiện và tiến tới thực hiện trên nhiều phương tiện, ở bất cứ nơi đâu thuận lợi cho doanh nghiệp. - G2E (Government to Employees – Chính phủ với người lao động): Chỉ các dịch vụ, giao dịch trong mối quan hệ giữa Chính phủ đối với công chức, viên chức và người lao động đang làm việc trong đơn vị hành chính sự nghiệp: như bảo hiểm, dịch vụ việc làm, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, nhà ở… - G2G (Government to Government – Chính phủ với Chính phủ): Được hiểu như khả năng phối hợp, chuyển giao và cung cấp các dịch vụ một cách có hiệu quả giữa các cấp, ngành, tổ chức, bộ máy nhà nước trong việc điều hành và quản lý nhà nước, trong đó chính bản thân bộ máy của chính quyền vừa đóng vai trò là chủ thể và khách thể trong mối quan hệ này.