CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CÔNG TY 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC CÔNG TY 1.1 Các khái niệm cơ bản về chiến lược - Khái niệm về chiến lược: Khái niệm chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại, xuất phát từ thuật ngữ “strategos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “vị tướng”, chính vì thế thuật ngữ chiến lược xuất phát đầu tiên trong lĩnh vực quân sự và được hiểu như là cách khai thác lực lượng để chiến thắng đối phương, và ngày nay thuật ngữ chiến lược được sử dụng rất rộng rải trong kinh doanh và trong cuộc sống. Do tầm quan trọng của chiến lược và quản trị chiến lược, nên có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau. Chiến lược theo Alfred Chandler (Trường kinh doanh Harvard) là việc xác định mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, và sự chọn lựa tiến trình hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó [7]. Còn theo Theo Michael Porter (1996): “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty.
Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc… và kết hợp chúng với nhau… cốt lõi của chiến lược là lựa chọn cái chưa làm"[4]. Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm. Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh , chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất. Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt.
Như vậy, theo các khái niệm về chiến lược trên đây thì không đề cập đến vấn đề hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực và có rất nhiều cách tiếp cận với những quan điểm nghiên cứu khác nhau. Nhưng tổng quát lại, có thể hiểu chiến lược là tập hợp các mục tiêu cơ bản dài hạn, được xác định phù hợp với tầm nhìn, sứ mệnh của tổ chức và các cách thức, phương tiện để đạt được những mục tiêu đó một cách tốt Luan van 4 nhất, sao cho phát huy được những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của tổ chức, đón nhận được những cơ hội, né tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại do những nguy cơ từ môi trường bên ngoài. Khía cạnh khác của chiến lược là còn tùy theo cấp, về bản chất, chiến lược tùy thuộc vào quan điểm. Tối thiểu có ba cấp chiến lược : - Chiến lược cấp công ty : bàn đến mục đích chung và phạm vi của tổ chức.
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh : chủ yếu quan tâm đến cách thức cạnh tranh trên một thị trường cụ thể. - Chiến lược chức năng : Chuyển dịch chiến lược công ty và chiến lược cấp đơn vị kinh doanh tới các bộ phận của tổ chức trên phương diện nguồn lực, các quá trình, con người và kỹ năng của họ. - Khái niệm quản trị chiến lược: Cũng như khái niệm về chiến lược, quản trị chiến lược có rất nhiều khái niệm khác nhau: - Quản trị chiến lược là quá trình quản lý việc thay đổi chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ của tổ chức đó với môi trường của nó. - Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản lý quyết định sự thành công lâu dài của công ty.
Và chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát quản trị chiến lược là một bộ các quyết định quản trị và các hành động xác định hiệu suất dài hạn của một doanh nghiệp. Quản trị chiến lược bao gồm các hành động liên tục: soát xét môi trường (cả bên trong lẫn bên ngoài); xây dựng chiến lược; thực thi chiến lược và đánh giá kiểm soát chiến lược. Do đó, nghiên cứu chiến lược nhấn mạnh vào việc theo dõi và đánh giá các cơ hội và đe dọa bên ngoài trong bối cảnh của các sức mạnh và điểm yếu bên trong[2]. Quản trị chiến lược có nguồn gốc là các chính sách kinh doanh, quản trị chiến lược kết hợp các chủ đề hoạch định dài hạn với chiến lược.
Tuy nhiên, trái với quản trị chiến lược, chính sách kinh doanh có định hướng quản trị chung, chủ yếu hướng vào bên trong quan tâm đến sự tích hợp hoạt động giữa các chức năng của tổ Luan van 5 chức. Trong khi đó, quản trị chiến lược không chỉ quan tâm đến sự tích hợp các chức năng bên trong giống như chính sách kinh doanh mà còn nhấn mạnh hơn vào môi trường và chiến lược. Chính vì vậy người ta sử dụng thuật ngữ quản trị chiến lược thay cho chính sách kinh doanh.2 Chiến lược cấp Công ty : Chiến lược cấp công ty còn gọi là chiến lược tổng quát là hệ thống những chiến lược tổng quát, có thể áp dụng cho các công ty đa ngành hoặc đơn ngành, sản xuất, kinh doanh,…các sản phẩm hoặc các dịch vụ trên thị trường trong nước hoặc thị trường đa quốc gia. Chiến lược cấp công ty xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm dành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị, một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm khác nhau.
Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu như hiện nay, các nhà quản trị cấp cao luôn xem công ty như là một tổ hợp các năng lực cốt lõi, khi họ lựa chọn các đơn vị kinh doanh mới và quyết định cách thức quản trị chúng[2] Chiến lược cấp công ty có thể giúp công ty đạt được thu nhập trên trung bình bằng việc sáng tạo ra giá trị và chiến lược cấp công ty hữu hiệu làm cho tổng thể các đơn vị kinh doanh có được thu nhập tổng hợp vượt quá những gì mà nó có thể làm nếu không có chiến lược, góp phần vào khả năng cạnh tranh chiến lược của công ty, và đem lại cho công ty khả năng thu được thu nhập trên trung bình. Chiến lược cấp công ty chủ yếu nhằm tìm kiếm lĩnh vực kinh doanh mà công ty có thể tham gia để cực đại hóa khả năng sinh lợi dài hạn. Chiến lược cấp công ty trả lời hai câu hỏi then chốt, đó là, công ty gồm các hoạt động kinh doanh nào? và công ty sẽ quản lý các hoạt động kinh doanh đó ra sao? Chiến lược phát triển công ty về bản chất là chiến lược công ty.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CÔNG TY 1.1 Tuyên bố viễn cảnh, sứ mệnh : Viễn cảnh : Liên quan đến các mục đích mong muốn nhất và khái quát nhất của tổ chức. Viễn cảnh cực kỳ quan trọng vì nó tựu trưng sự tưởng tượng của con người trong tổ Luan van 6 chức và động viên mọi nỗ lực của tổ chức để đạt được các mục đích, sự nghiệp và ý tưởng cao hơn.
Viễn cảnh cần có một sự lôi cuốn để xúc cảm khuyến khích dốc toàn tâm toàn lực của mình để đạt được lý tưởng. Mỗi viễn cảnh nêu lên một ý nghĩa tồn tại độc đáo. Cấu trúc của bản Tuyên bố Tầm nhìn chiến lược thường gồm hai phần chính: - Tư tưởng cốt lõi. - Hình dung về tương lai.
Tư tưởng cốt lõi xác định đặc tính lâu dài của tổ chức, đó là một sự xác định nhất quán vượt lên trên cả các chu kỳ sống của sản phẩm hay thị trường, các đột phá công nghệ, các kiểu cách quản trị và cá nhân người lãnh đạo. Tư tưởng cốt lõi tạo ra sự đóng góp quan trọng và bền vững nhất cho những thành công ở các công ty có tầm nhìn xa. -Tư tưởng cốt lõi : bao gồm hai bộ phận là giá trị cốt lõi và mục đích cốt lõi. Các giá trị cốt lõi : là các nguyên tắc nền tảng và bền vững của tổ chức.
Các tổ chức cần xác định cho chính mình những giá trị được giữ làm cốt lõi, độc lập với môi trường hiện tại, với yêu cầu cạnh tranh và cấp thức quản trị. Để nhận diện các giá trị cốt lõi cần lựa chọn tính chân thực, qua đó xác định giá trị nào thực sự là trung tâm và các giá trị đó phải đứng vững trước sự kiểm định về thời gian. Mục đích cốt lõi : là lý do cơ bản nhất để tổ chức tồn tại. Một mục đích hữu hiệu phản ảnh các động cơ thúc đẩy để thực hiện công việc của một tổ chức, mô tả kết quả hay khách hàng mục tiêu của tổ chức, thể hiện sự sống còn của tổ chức.
Viễn cảnh là sự hình dung về tương lai. Hình dung về tương lai gồm mục tiêu thách thứcvà các mô tả sinh động về những gì mà mục tiêu cần đạt được. Trong đó, mục tiêu thách thức là mục tiêu Lớn,Thách thức và Táo bạo(BHAG – Big, Hairy, Audacious Goal) là phần rất quan trọng. Tuy nhiên viễn cảnh không thể hiện các chiến lược bước đi hay phương pháp mà tổ chức dùng để theo đuổi mục đích.
Sứ mệnh như là một cơ sở để đáp ứng cho viễn cảnh. Việc xác định tư tưởng cốt lõi là một quá trình khám phá, nhưng việc tạo ra hình dung tương lai là một quá trình sáng tạo. Luan van 7 Sứ mệnh : Bản tuyên bố sứ mệnh là một mệnh lệnh then chốt về cách thức mà một tổ chức nhìn nhận về các đòi hỏi của các bên hữu quan. Sứ mệnh cũng được coi là một cơ sở để đáp ứng cho viễn cảnh.
Bản tuyên bố sứ mệnh tập trung vào sự thay đổi mong muốn của tổ chức. Các tuyên bố sứ mệnh được tạo ra bởi 3 thành tố sau: • Định hướng khách hàng và định nghĩa kinh doanh : Việc định nghĩa kinh doanh bao gồm việc tập trung vào nhóm khách hàng phục vụ, nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn và công nghệ để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. • Các giá trị : của một công ty tuyên bố cách thức các nhà quản trị tự điều khiển ho, cách thức mà họ tiến hành kinh doanh, những đặc tính tổ chức mà họ muốn tạo dựng. Các giá trị có thể trở thành nền tảng của văn hóa tổ chức trong công ty và một sự dẫn dắt lợi thế cạnh tranh của nó.
• Các mục tiêu : xác định những gì phải làm nếu công ty muốn đạt được sứ mệnh. Các mục tiêu được xây dựng tốt phải chính xác có thể đo lường , hướng đến các vấn đề mấu chốt, phải thách thức những hiện thực, phải xác định thời hạn cụ thể để đạt được.2 Phân tích môi trường kinh doanh: 1.