Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong đời sống xã hội đương đại, quá trình hội nhập kinh tế và văn hóa tạo ra nhiều chuyển biến phức tạp trong quan hệ gia đình, điển hình là xu hướng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn ("sống thử"). Thực trạng này dẫn đến việc nhiều trẻ em sinh ra ngoài giá thú, không xác định được cha mẹ đẻ hoặc bị chính cha mẹ chối bỏ trách nhiệm. Để thiết lập cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em cũng như các chủ thể liên quan, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã dành riêng Chương V quy định về quan hệ giữa cha mẹ và con, bao gồm chế định xác định cha, mẹ, con.
Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng bước hoàn thiện qua các thời kỳ (từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đến năm 2014), việc thực thi các quy định về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên trên thực tế vẫn phát sinh nhiều bất cập. Cụ thể, sự thiếu đồng bộ giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tạo ra những xung đột về thẩm quyền giải quyết, mâu thuẫn trong cách hiểu và áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân cũng như cơ quan đăng ký hộ tịch cấp cơ sở.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát của khóa luận là tập trung tìm hiểu, phân tích các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên; đánh giá thực tiễn áp dụng tại địa bàn thành phố Hà Nội nhằm chỉ ra những vướng mắc, khiếm khuyết pháp lý và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên, bao gồm khái niệm, hệ quả pháp lý, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa pháp lý, các căn cứ xác định và yếu tố ảnh hưởng.
- Phân tích, đánh giá nội dung các quy định hiện hành của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam liên quan đến việc xác định cha, mẹ, con khi sinh con tự nhiên.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật tại thành phố Hà Nội thông qua các vụ việc, vụ án điển hình; từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp khắc phục bất cập.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên và thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc xác định cha, mẹ, con tại thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng các văn bản liên quan; phạm vi thực tiễn giới hạn trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đề tài không phân tích trường hợp xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài hoặc trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mang thai hộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các khái niệm pháp lý, lý luận về quan hệ nhân thân và các văn bản quy phạm pháp luật thực định của Nhà nước Việt Nam.
Khung lý thuyết và văn bản pháp luật sử dụng:
- Hệ thống văn bản luật: Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010.
- Văn bản dưới luật và Nghị quyết: Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Thông tư số 15/2015/TT-BTP của Bộ Tư pháp.
- Công trình khoa học tiền đề: Tác giả tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu lý luận từ Luận văn thạc sĩ (2002) và Luận án tiến sĩ (2008) của PGS.TS. Nguyễn Thị Lan; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Vũ Ngọc Phúc (2012), Trần Thị Xuân (2014), Trần Thu Phương (2015), cùng các bài viết chuyên khảo của TS. Lê Thu Hà (2006).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng để bình luận, mổ xẻ các điều luật từ nhiều góc độ nhằm làm rõ cấu trúc pháp lý của chế định xác định cha, mẹ, con.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các quy định giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, làm rõ những điểm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.
- Phương pháp thống kê, nghiên cứu hồ sơ án điển hình: Tập hợp, phân tích các vụ án, vụ việc thực tế tại Tòa án nhân dân trên địa bàn Hà Nội để nhận diện vướng mắc tố tụng và giải thích luật.
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp và tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm lý luận, rút ra nhận xét và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ vụ án thực tế, các quyết định/bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp quận/huyện tại Hà Nội (như TAND quận Bắc Từ Liêm), kết luận giám định sinh học ADN của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an và từ điển chuyên ngành (Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Lạc Việt, Từ điển Luật học, Bách khoa toàn thư).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái niệm và pháp luật Việt Nam hiện hành về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định điều chỉnh việc xác định cha, mẹ, con khi sinh con theo quy luật tự nhiên.
-
Khái niệm và ý nghĩa:
- Khái niệm cha, mẹ, con: Dưới góc độ sinh học, quan hệ cha - mẹ - con là quan hệ huyết thống xuất phát từ sự kiện sinh đẻ tự nhiên. Dưới góc độ pháp lý, quan hệ này phát sinh khi có sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã thay thế thuật ngữ "con trong giá thú / con ngoài giá thú" bằng các khái niệm "con chung", "con riêng", "con đẻ", "con nuôi".
- Khái niệm xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên: Là quá trình tìm kiếm, nhận diện và xác lập tư cách pháp lý cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ giữa các chủ thể dựa trên sự kiện sinh đẻ, quan hệ hôn nhân và huyết thống.
- Ý nghĩa: Về mặt xã hội, giúp bảo đảm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em, xóa bỏ định kiến phân biệt đối xử giữa các con; về mặt pháp lý, là tiền đề làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản (thừa kế, cấp dưỡng, giám hộ, đại diện).
-
Pháp luật hiện hành về căn cứ và thủ tục xác định cha, mẹ, con:
- Trường hợp cha mẹ có hôn nhân hợp pháp (Điều 88 Luật HN&GĐ 2014): Áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý dựa trên thời kỳ hôn nhân (con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân, hoặc con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân). Con sinh trước ngày đăng ký kết hôn được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung. Trường hợp không thừa nhận phải có chứng cứ chứng minh và được Tòa án xác định.
- Trường hợp cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp: Xác định dựa trên các căn cứ thực tế gồm thời điểm thụ thai/sinh con, quan hệ sinh lý giữa hai bên trong thời gian thụ thai, hành vi đối xử/nuôi dưỡng và kết quả giám định y học (phương pháp nhóm máu, kháng nguyên hồng cầu/bạch cầu, giám định gen ADN).
- Thủ tục hành chính (Điều 101 Luật HN&GĐ 2014, Điều 24-25 Luật Hộ tịch 2014, Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP): Cơ quan đăng ký hộ tịch cấp xã thực hiện khi không có tranh chấp; thời hạn giải quyết là 03 ngày làm việc (kéo dài tối đa không quá 05 ngày nếu cần xác minh). Người chồng nhận con riêng không cần sự đồng ý của người vợ hợp pháp (Khoản 2 Điều 91). Nếu không có chứng cứ ADN, các bên lập văn bản cam đoan có ít nhất 02 người làm chứng.
- Thủ tục tư pháp: Tòa án giải quyết khi có tranh chấp, khi người được yêu cầu hoặc người yêu cầu đã chết (thời hạn 01-03 tháng đối với việc dân sự; 04-06 tháng hoặc kéo dài hơn đối với vụ án có tranh chấp).
-
Hệ quả pháp lý:
- Xác lập quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự/không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình (Điều 81).
- Nguyên tắc giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng; con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng (Điều 81).
- Nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con (Điều 82, 116, 117): Mức cấp dưỡng thực tế thường dao động từ 15% đến 30% thu nhập của người cấp dưỡng; phương thức thực hiện định kỳ hoặc một lần.
- Quyền thăm nom con không bị cản trở (Điều 83); điều kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 84) và quyền, nghĩa vụ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng (Điều 79).
Chương 2: Thực tiễn xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Chương 2 tập trung phân tích các mâu thuẫn trong thực tiễn xét xử, thụ lý hồ sơ tại Tòa án nhân dân và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện.
- Bất cập trong phân định thẩm quyền và áp dụng pháp luật:
- Xung đột giữa Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Khoản 2 Điều 101 Luật HN&GĐ 2014 chỉ quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi "có tranh chấp" hoặc "người được yêu cầu đã chết". Trong khi đó, Khoản 10 Điều 29 BLTTDS 2015 lại quy định thẩm quyền giải quyết việc dân sự đối với "Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ". Thực tiễn phát sinh trường hợp các bên không tranh chấp nhưng nộp đơn ra Tòa án kèm kết luận ADN để từ chối quan hệ cha con, dẫn đến tình trạng Tòa án lúng túng trong việc thụ lý vụ án hay việc dân sự.
- Sai sót trong áp dụng điều luật: Tòa án có xu hướng áp dụng sai Khoản 2 Điều 89 ("Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu xác định người đó không phải là con mình" - vốn dành cho con ngoài giá thú) đối với các trường hợp con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp có giấy khai sinh đầy đủ, thay vì phải áp dụng Khoản 2 Điều 88 Luật HN&GĐ 2014.
| Tiêu chí so sánh |
Tình huống 1 (Bà Vũ Thị H - Chị Vũ Thị N) |
Tình huống 2 (Anh Phan Linh T - Cháu Phan Thế H) |
| Bối cảnh phát sinh |
Nhận nuôi con năm 1993 nhưng đăng ký khai sinh ghi con đẻ; năm 2006 phát sinh mâu thuẫn, bà H yêu cầu xác định chị N không phải con đẻ. |
Kết hôn ngày 07/8/2017, sinh con tháng 3/2018; anh T nghi ngờ, giám định ADN xác định không cùng huyết thống và khởi kiện. |
| Thủ tục Tòa án thụ lý |
Tòa án nhân dân TP. V thụ lý giải quyết theo thủ tục Việc dân sự (mở phiên họp sơ thẩm). |
Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục Vụ án dân sự (theo Khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015). |
| Chứng cứ chứng minh |
Kết quả xét nghiệm ADN không cùng huyết thống; bản tự khai thừa nhận của chị N. |
Phiếu kết quả phân tích ADN xác định không có quan hệ huyết thống cha - con. |
| Điều luật Tòa án áp dụng |
Áp dụng Khoản 2 Điều 89 Luật HN&GĐ 2014 (Chấp nhận yêu cầu). |
Áp dụng Khoản 2 Điều 89 Luật HN&GĐ 2014 (Chấp nhận yêu cầu). |
| Đánh giá của tác giả |
Thụ lý việc dân sự là chưa chuẩn xác nếu thiếu sự thống nhất từ đầu; áp dụng sai Khoản 2 Điều 89 (phải áp dụng Khoản 2 Điều 88). |
Thụ lý vụ án dân sự là chính xác; tuy nhiên áp dụng sai Khoản 2 Điều 89 (phải áp dụng Khoản 2 Điều 88). |
- Phân tích vụ án điển hình ngày 09/09/2019 tại TAND quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội:
- Vụ án: "Xin xác định con và chấm dứt nuôi con nuôi" giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, bị đơn anh Nguyễn Tiến Đ, người liên quan chị Nguyễn Thị A.
- Tình tiết: Anh Đ và chị A kết hôn năm 1982 không có con. Năm 2016, anh Đ quan hệ với chị T và sinh cháu Nguyễn Thị Hồng N ngày 15/4/2016 tại Bệnh viện E (Giấy chứng sinh số 79, quyển số 57). Vợ chồng anh Đ - chị A làm thủ tục nhận cháu N làm con nuôi (Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/2016 ngày 01/8/2016) và đăng ký khai sinh ghi tên bố Nguyễn Tiến Đ, mẹ Nguyễn Thị A. Ngày 07/5/2018, anh Đ và chị A ly hôn theo Quyết định số 108 của TAND quận Bắc Từ Liêm (giao cháu N cho anh Đ nuôi). Ngày 18/5/2018, anh Đ và chị T kết hôn. Chị T khởi kiện yêu cầu xác định cháu N là con đẻ của mình và anh Đ, đồng thời chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi giữa anh Đ, chị A với cháu N.
- Phán quyết: TAND quận Bắc Từ Liêm căn cứ Kết luận giám định số 243/C09-TT3 ngày 06/8/2019 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an (xác định anh Đ, chị T là cha mẹ đẻ của cháu N với xác suất 99,99%), chấp nhận yêu cầu khởi kiện theo Khoản 1 Điều 89 Luật HN&GĐ 2014; tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Khoản 3 Điều 26, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi 2010 và Điều 78 Luật HN&GĐ 2014; buộc anh Đ nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính:
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý và thực tiễn để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên, phân định rõ phạm vi áp dụng của nguyên tắc suy đoán pháp lý (theo thời kỳ hôn nhân) và chứng cứ y học thực nghiệm (giám định gen ADN với độ tin cậy đến 99,99%).
- Nhận diện rõ mâu thuẫn giữa quy định nội dung tại Khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với quy định tố tụng tại Khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất giữa các Tòa án khi thụ lý vụ án hoặc việc dân sự.
- Phát hiện lỗi áp dụng phổ biến trong thực tiễn xét xử: Thẩm phán thường nhầm lẫn giữa Khoản 2 Điều 88 (không thừa nhận con sinh trong thời kỳ hôn nhân) và Khoản 2 Điều 89 (không nhận con ngoài giá thú).
Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:
- Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 theo hướng bổ sung thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các yêu cầu xác định cha, mẹ, con khi các bên không có tranh chấp và có đầy đủ chứng cứ giám định ADN, nhằm đảm bảo tính thống nhất với Khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể về tiêu chí phân định "vụ án" và "việc dân sự" trong các tranh chấp/yêu cầu xác định cha, mẹ, con; làm rõ điều kiện thụ lý việc dân sự (phải có sự thỏa thuận thống nhất và có chứng cứ kết luận giám định ADN nộp ngay từ thời điểm nộp đơn).
- Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán và công chức Tư pháp - Hộ tịch nhằm giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thẩm quyền và ghi chú hộ tịch.
Đóng góp của khóa luận:
Khóa luận đã tiếp cận chuyên sâu vào phạm vi "sinh con tự nhiên" theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 gắn liền với thực tiễn xét xử tại Tòa án cấp cơ sở trên địa bàn TP. Hà Nội, tạo ra điểm mới so với các công trình trước đây vốn chủ yếu nghiên cứu khái quát hoặc dựa trên nền tảng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của đề tài mới tập trung vào các trường hợp sinh con tự nhiên thuần túy trong nước và khảo sát thực tiễn giới hạn tại địa bàn thành phố Hà Nội. Đề tài chưa mở rộng khảo sát số liệu toàn quốc và chưa phân tích các trường hợp xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong các trường hợp áp dụng tiến bộ y học (sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo) và các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan Đăng ký hộ tịch và Tòa án nhân dân trong việc chuyển giao, cập nhật bản án, quyết định hộ tịch.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ trực tiếp cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học: Đặc biệt là những người nghiên cứu học phần Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hộ tịch; cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có cấu trúc phân tích kết hợp giữa lý luận điều luật và án lệ thực tế.
- Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch tại UBND cấp xã/phường: Tham khảo quy trình xử lý hồ sơ nhận cha, mẹ, con theo thủ tục hành chính, quy định về văn bản cam đoan khi thiếu kết quả giám định y khoa và các trường hợp người có vợ/chồng nhận con riêng mà không cần sự đồng ý của bên kia.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư: Tham khảo các lập luận pháp lý để phân định chính xác thẩm quyền thụ lý vụ án dân sự (Khoản 4 Điều 28 BLTTDS) so với việc dân sự (Khoản 10 Điều 29 BLTTDS), cũng như phân biệt đúng việc áp dụng Khoản 2 Điều 88 hay Khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Câu hỏi thường gặp
1. Người chồng đang trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp muốn làm thủ tục nhận con riêng thì có bắt buộc phải được sự đồng ý của người vợ không?
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: "Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia". Do đó, người chồng hoàn toàn có quyền tự mình nộp hồ sơ nhận con riêng tại UBND cấp xã có thẩm quyền mà pháp luật không bắt buộc phải có văn bản đồng ý của người vợ hợp pháp.
2. Khi người chồng phát hiện con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không cùng huyết thống với mình, Tòa án phải căn cứ vào điều khoản nào của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết?
Trường hợp con được sinh ra hoặc mang thai trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp và đã được khai sinh đầy đủ, nếu người chồng muốn không thừa nhận con thì Tòa án phải áp dụng Khoản 2 Điều 88 ("Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định"). Việc một số Tòa án áp dụng Khoản 2 Điều 89 là không chính xác, vì Điều 89 áp dụng cho việc xác định con ngoài giá thú khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp.
3. Trong trường hợp không có văn bản giám định ADN, thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con tại Ủy ban nhân dân cấp xã được xử lý như thế nào?
Theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP hướng dẫn Luật Hộ tịch năm 2014, trường hợp không có chứng cứ y tế/giám định chứng minh quan hệ huyết thống thì các bên nhận cha, mẹ, con được lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con và phải có ít nhất 02 người làm chứng. Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
4. Trong vụ án ngày 09/09/2019 tại TAND quận Bắc Từ Liêm, Tòa án đã căn cứ vào chứng cứ chuyên môn nào để xác định quan hệ cha mẹ đẻ?
Hội đồng xét xử TAND quận Bắc Từ Liêm đã căn cứ trực tiếp vào Kết luận giám định sinh học ADN số 243/C09-TT3 ngày 06/8/2019 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận anh Nguyễn Tiến Đ và chị Nguyễn Thị T là cha đẻ, mẹ đẻ của cháu Nguyễn Thị Hồng N với xác suất 99,99%.
5. Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi và xem xét nguyện vọng của con khi cha mẹ không sống chung?
Theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho người mẹ nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc hoặc hai bên có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của bản thân đứa trẻ khi quyết định giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Thanh Hường đã hệ thống hóa một cách khoa học các vấn đề lý luận và thực định về chế định xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các hồ sơ án thực tế tại thành phố Hà Nội, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong việc phân định thẩm quyền tố tụng và sự nhầm lẫn khi áp dụng điều luật của cơ quan xét xử. Các giải pháp sửa đổi Khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình cùng định hướng ban hành hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao được đề xuất có giá trị thực tiễn, đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ quyền nhân thân và quyền trẻ em trong xã hội.