Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VẺ XÁC ĐỊNH CHA CHO CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON TỰ NHIÊN 1. KHAINIEM CHUNG VE XÁC ĐỊNH CHA CHO CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON TU NHIÊN 1. Khái niệm cha, con, quan hệ cha và con Dưới góc độ sinh học và di truyền, mỗi người chúng ta sinh ra luôn có một người cha đẻ và một người mẹ đẻ. Cha và con là những khái niệm luôn tôn tại song song củng với nhau, có môi liên quan không thể tách rời.
Mối quan hệ giữa cha dé va con đẻ luôn gan liên với quá trình sinh dé, tir việc thụ thai, mang thai và sinh con của người phụ nữ. Quan hệ huyết thông giữa cha và con tôn tại một cách tự nhiên trong quá trình phát triển của xã hội loài người không phu thuộc vào tinh trạng hôn nhân của cha mẹ đứa trẻ. Đây la sư kiên tự nhiên được pháp luật ghi nhận thành sự kiên pháp ly và chịu sự điều chỉnh nhất định. Theo từ điển Lac Việt, “cha” la “người đản ông sinh ra mình”.
Trong trường hợp nay thì cha là người trực tiếp “sinh ra” con, tức lả quan hệ cha — con là quan hệ huyết thống dựa trên sự kiện sinh đẻ. Theo từ điển Tiếng Việt, “cha” là “người dan ông có con, trong quan hé với con”? Day lả một khái niệm rông, néu chi đưa ra khái niệm như vậy thì “cha” ở đây sẽ bao gôm cả cha dé va cha nuôi. Về nguyên tắc, cha đẻ trong trường hợp sinh con tự nhiên (không áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản) phải đâm bao 3 yếu tô: Thử nhất, có quan hệ huyết thông trực hệ với người con, thứ hai, người con phải mang mã gen của cha mẹ, thứ ba, phải do người mẹ trực tiếp sinh ra. Vì vậy có thé kết luận, đưới góc độ sinh học — xã hội, cha đẻ trong trường hợp sinh con tư nhiên, trong quan hệ với con, là người trực tiếp sinh ra con và có quan hệ huyết thông với con.
Co một số khái niệm cụ thể về “con” can làm rõ là khải niệm “con nuôi”, ` Tử điễn Lạc Việt tttps.cansvaV) 3 Viện Ngôn ngữ học (2004), Tử điện Tiếng Višt, Nxb Da Nẵng, Da Nẵng tr130 6 “Con nuôi” là con không phải do cha mẹ sinh ra, ma được một trong hai người (có quan hệ vợ chồng) nhận về nuôi dưỡng, chăm sóc như con đẻ. Con nuôi có quyên được xem xét và đâm bao quyền lợi của minh trong các vân dé như thừa kế, nuôi dưỡng vả giáo duc theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như các quy định liên quan khác. “Con dé” là con do cha mẹ trực tiếp sinh ra, có quan hệ huyết thống với cha mẹ. “Con chung” là con mả vợ chông được xác định là cha me của người con đó.
“Con riêng” là con của một bên vợ chồng, được sinh ra trước hoặc sau khi kết hôn. Thuật ngữ "giá thú” bắt nguồn từ gốc chữ Hán (chữ "giá" có nghĩa là con gái về nha chồng, chữ "thú" có nghĩa la lây vợ, giá thú là việc con trai, con gai lây nhau thành vợ chông). “Con trong giá thú” lả con của cặp vợ chong hop pháp, được nha nước thừa nhận tôn tại quan hệ hôn nhân. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thé về thé nào là “con ngoải giá thứ”.
Tuy nhiên có thé hiểu “Con ngoài giá thu” là con ma cha me của chúng không phải là vợ chông hop pháp. Còn con sinh ra trong môi quan hệ chung sông như vo chông lả “con trong giá thú” khi cha me của người đó đăng ký kết hôn hoặc quan hệ giữa cha me được thửa nhận bằng một ban án, quyết đính có hiệu lực của Toa án. “Con ngoài giá thú” thường do người me không có chồng sinh ra hoặc tuy người mẹ đang có chông nhưng người chẳng đã chứng minh trước Toả án rằng đứa trẻ đó không phải là con của ho. Dưới góc độ pháp lý, khái niém cha con luôn gắn liên với những sự kiện pháp lý nhất định.
Quan hệ giữa cha và con về mặt pháp lý chỉ được phát sinh khi được sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thấm quyên Sự kiện sinh con của người phụ nữ là chưa đủ dé phát sinh quan hệ của cha me và con trước pháp luật. Chẳng han khi đứa trẻ được sinh ra ma cha mẹ không lam thủ tục đăng ky khai sinh cho con thì mối quan hệ giữa cha va con cũng chưa được nha nước thừa nhận. Tom lại, dưới góc đô pháp lý “cha đề trong mối quan lệ với con la người có quyền và nghia vụ với con theo guy định của pháp luật”. ` Trường Đại học Luật Hi Nội (2021), “Giáo trình Luật Hồn nhân và gia dink”, Neb.
Twpháp ,1246 7 Thông thường, người cha sinh ra người con về mặt sinh học sẽ đương nhiên trùng với người cha về mặt pháp lý vì môi quan hé nay có xuất phát điểm là sự kiện sinh dé để nhằm dam bảo tính huyết hệ tự nhiên giữa hai thé hệ sinh ra kế tiếp nhau. Tuy nhiên với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc mang thai hộ vi mục đích nhân đạo thì người cha với người con về mặt sinh học có thể không trùng với người cha, người con về mat pháp lý. Khái niệm xác định cha cho con trong trường hợp sinh con tr nhiên “Xác định” là khái niệm không mới trong đời sông xã hội cũng như khoa học nghiên cửu nói chung, Theo Từ điển Tiếng Việt, “Xác định” được định ngiữa là “qua nghiên cứu, tim toi, biết được rõ ràng, chính xác”. Từ đó có thé hiểu xác định cha con chính là việc tìm hiểu, nghiên cứu, dé tìm ra nguồn gốc xuât thân của một người với tư cách 1a con, xác định tư cách là cha của một người trong môt môi quan hệ với một đứa trẻ.
Theo từ điển Luật học, “xac định cha cho con” là định rõ một người cha cho con trên cơ sở các quy định của pháp luật. Xác định cha con lả một trong những quyền nhân thân được quy định trong Bồ luật dân sự năm 2015 (Điều 39), Luật hôn nhân va gia định năm 2014 (Điều 88, Điều 80, Điều 92 va Điều 94). Theo đó xác định cha cho con trong trường hợp sinh con tự nhiên hưởng tới mục đích lả xây dựng quan hệ huyết thông giữa những người có mdi quan hệ cha-con Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, công nghệ sinh học và y học, việc sinh con không chỉ được thực hiên bằng cách thu thai tự nhiên qua việc quan hệ sinh lý trực tiếp giữa hai bên nam, nữ ma còn được thực hiện bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ. Do đó, van dé xác định cha cho con được pháp luật quy định trong hai trường hợp cơ ban la: sinh con tự nhiên va sinh con bằng Kĩ thuật hỗ trợ sinh sản.
Trong pham vi bai viết này, em sẽ chỉ dé cập đến trường hợp sinh con ty nhiên. Dưới goc độ pháp lý, xác định cha con với tư cách la một sự kiện pháp lý: Sukiện sinh đẻ là sự kiện pháp lý lam nay sinh quan hệ pháp luật giữa cha và 8 con. Đây được coi la bằng chứng về mặt huyết thông của cha con. Dưới góc độ sinh học — xa hội thì sự kiện sinh dé của người phụ nữ là đủ để xác định quan hệ cha con.
Nhưng dưới góc đô pháp lý thì sự kiện sinh đẻ mới chỉ là điều kiện can chứ chưa phải điều kiện đủ để xac định cha con ma phải đi kèm với một hanh vi pháp lý như đăng ký khai sinh, quyết định hay một bản án của cơ quan có thâm quyên công nhận hoặc xác định tư cách cha con. Việc định rõ cha con được thực hiện tại Ủy ban nhân dân được gọi là xác định cha con theo thủ tục hành chính. Con với trường hợp định rõ cha con được thực hiện tai Toa án gọi là xác định cha con theo thủ tục tư pháp. Có thể thây rằng, việc xác định cha cho con luôn cần có sự thừa nhận của cơ quan nha nước có thẩm quyền.
Từ đó mới phát sinh quyền vả nghĩa vụ giữa cha với con theo quy định của pháp luật. Các quyên va nghĩa vu này chủ yêu la quyền nhân thân và quan hé tai sản Như vậy, có thể hiểu khái niệm xác định cha cho cơn như sau: “Xac định cha cho con la việc nghiên cứu, tìm kiếm, để biết được mồi quan hệ huyết thông đúng đắn, chính xác giữa hai thé hệ nói tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ của người phụ nữ. Đây là căn cứ làm phát sinh quyên và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ giữa cha và con”. Ý nghĩa của việc xác định cha cho con trong trường hợp sinh con tự nhiên Ÿ nghĩa với cha mẹ Việc xác định cha cho con không chi là thủ tục pháp lý đơn thuần, ma còn là dong chảy yêu thương, mang đền những giá trị to lớn cho cả cha mẹ.
Về mặt pháp lý, xác định cha 1a căn cứ thiết lập nên tang vững chắc cho quyên lợi của con. Con được hưởng day đủ quyên thừa kế, cập dưỡng, chăm sóc sức khöe, giáo dục,. Đông thời, việc xác đính cha giúp giải quyết các tranh chap về quyển nuôi dưỡng, giám hộ con cái, đảm bảo sự ôn định cho cuộc sóng của con. Trên hành trình vun đấp tinh cảm, xác định cha là câu nói cho sự gan kết giữa cha vả con Cha mẹ có cơ hội thực hiện trách nhiệm yêu thương, nuôi dưỡng va giáo dục dé con trở thảnh người con hiểu thao, công dân có ich cho 9 xã hôi.
Con được hưởng trọn ven tinh cảm của cha, bôi đắp nên múi quan hệ cha con bên chặt, đầy yêu thương. Yaghia với người con (đặc biệt là trẻ em, người chưa thành niên) Công ước Quốc tế về quyên trẻ em bao gồm 54 điều khoản, đã đê ra các quyển cơ bản của con người ma trẻ em trên toan thê giới đều được hưởng, và được Liên hop quốc thông qua năm 1989. Hau hết tat cả các các nước trên thé giới đông tinh và phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam là nước dau tiên ở châu A và nước thứ 2 trên thé giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc vê Quyền trẻ em vao ngày 20 tháng 2 năm 1000.
Và đối với Việt Nam, những người có độ tudi đưới 16 tudi được coi là trẻ em. Theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016, một trong những quyền ma tré em được hưởng đó 1a “quyên được khai sinh va có quốc tịch”.