Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công chứng 1. Khái niệm công chứng Lịch sử hoạt động công chứng, chứng thực, làm chứng gắn liền với sự phát triển của xã hội. Suốt từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm công chứng (Công chứng viên) và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt rõ ràng.
Ở thời kỳ cổ đại, người ta đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảo các khế ước (hợp đồng) theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thay đổi về sau, khác hẳn với những khế ước không thành văn theo truyền thống (giao kết miệng). Lịch sử hình thành và phát triển nhà nước cũng cho thấy, đã có thời kỳ chưa có khái niệm công chứng. Một số tác giả nghiên cứu về công chứng cho rằng, có hai loại hình thực hiện công chứng là tư chứng thư và công chứng thư. Các tác giả đã đưa ra các khái niệm “công” và “tư” để phân biệt giữa những cá nhân tự do làm chứng với các chức danh được nhà nước giao cho nhiệm vụ thực hiện hành vì công chứng hoặc Nhà nước trực tiếp thực hiện các việc công chứng.
Điều này được lý giải như sau: – Tư chứng thư (chỉ người làm chứng tự do): Trong nhân dân ta tồn tại một truyền thống là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những người có uy tín trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhận. Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải quyết vụ việc tranh chấp. Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là “tư chứng thư”. Đây là một dạng chứng nhận của bất kỳ một cá nhân nào, thực hiện một cách tự do, làm chứng không phải là nghề chuyên môn mà họ được giao, nhà nước không những không cấm mà còn có phần khuyên khích nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu.
Loại hình này xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay. 7 Ở Việt Nam, các thể thức giấy tờ, khế ước như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng đất… đều quy định người chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải điểm chỉ vào văn tự. Đây là những quy định nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý, hạn chế tranh chấp kiện tụng. Ngày nay, Bộ luật Dân sự của nước ta vẫn quy định trong quan hệ dân sự các bên phải thiện chí, trung thực… Nếu một bên cho rằng bên kia không trung thực, thì phải có chứng cứ (chứng cứ ở đây bao hàm cả những chứng cứ do cơ quan chuyên trách cung cấp và cả chứng cứ do bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cung cấp.
Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phản ảnh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứ cho Tòa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền mua bán nhà… Đây là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh nghĩa là một tổ chức được nhà nước công nhân hoặc cho phép hoạt động. Có thể nói, tư chứng thư là một hình thức hoạt động phong phú và đa dạng, dù ở giai đoạn lịch sử hay điều kiện xã hội nào cũng phải cần đến như một nhu cầu tất yếu cho xã hội. – Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích công, do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vì vậy được gọi là công chứng. Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vì công chứng được nhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm tính xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng các hình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc nhà nước ủy quyền (công chứng tự do).
Hiện tại có những quan điểm cho rằng, công chứng có nghĩa là lấy công quyền mà làm chứng (Attestation), sự chứng nhận của nhà nước ở đây mang tính quyền lực công. Quan điểm khác cho rằng, bản thân thuật ngữ công chứng đã 8 mang ý nghĩa là sự làm chứng công khai, có dấu ấn của công quyền, công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm thực hiện một công vụ (Thuật ngữ công vụ ở đây được hiểu là không hoàn toàn lệ thuộc vào những quy định của pháp luật về nền hành chính công). Công chứng là một hoạt động hành chính công, lấy lẽ công để làm chứng, là sự nhận thức, xác thực hoặc xác nhận một sự kiện, một hiện tượng đúng là như thế. Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, hoạt động công chứng thể hiện vai trò của quần chúng (công chúng, dân chúng), hoạt động phục vụ lợi ích công cộng, thể hiện tính công khai do nhà nước cho phép và thừa nhận.
Hoạt động công chứng không phải là hoạt động thực thi công quyền, không phải lấy quyền công, lẽ công mà mà đơn giản chỉ là chứng nhận như quan điểm vừa nêu trên, chúng tôi tán thành với quan điểm này. Công chứng xuất hiện tại Việt Nam là vào những năm 30 của thế kỷ XX, do người Pháp đưa vào Việt Nam. Nhưng mãi đến năm 1987, công chứng mới được đề cập lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tại thời điểm này, công chứng được hiểu là “Công quyền đứng ra làm chứng”, cụ thể là nhà nước trao thẩm quyền cho một tổ chức hành nghề công chứng và được phép nhân danh nhà nước để xác định các quan hệ giao dịch dân sự và thương mại.
Công chứng được gọi là “trưởng khế”. Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề mấu chốt của hoạt động công chứng, có vai trò lý luận cũng như thực tiễn vô cùng quan trọng, nó không những ảnh hưởng đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động mà căn cứ vào đó người ta có thể xác định được phạm vi, nội dung, thậm chí đến quyền và nghĩa vụ của những cá nhân, được tổ chức giao cho quyền năng thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Trước Luật công chứng 2014, công chứng có có nhiều định nghĩa, trong đó có 5 định nghĩa cơ bản phục vụ cho công tác QLNN về công chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta. Cụ thể như sau: 9 – Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước quy định: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện.
Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”[5]. – Nghị định số 45/HĐBT của HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Công chứng là việc chứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”[35]. – Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Công chứng là việc chứng nhận xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”[9]. – Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, tại điều 2 quy định: “Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao 10 dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại và quan hệ xã hội khác (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này”. Đáng chú ý, Nghị định này đã có sự phân định rõ khái niệm công chứng và chứng thực, điều mà các Nghị định trước đây chưa làm rõ được, bản chất của hành vi công chứng là:“chứng nhận tính xác thực của hợp đồng”, còn hành vi chứng thực lại chỉ là việc “xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân”[10]. Như vậy, theo quy định nêu trên, hành vi công chứng chính là việc xác lập giá trị pháp lý cho văn bản, hợp đồng; còn hành vi chứng thực chỉ đơn thuần là việc sao lại các văn bản, hợp đồng mà thôi.
– Luật Công chứng năm 2006 quy định: “Công chứng là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”[47]. Có thể nhận thấy, những khái niệm về công chứng gắn liền với những thay đổi của xã hội nước ta.