CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG CHỨNG VÀ XÃ HỘI HÓA CÔNG CHỨNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò công chứng 1. Khái niệm công chứng Công chứng là một thể chế có từ hàng trăm năm ở các nước phát triển trên thế giới. Công chứng là Notarie (tiếng Pháp), Notary (tiếng Anh), Notariat (tiếng Đức), Hottapiat (tiếng Nga), đều có gốc la tinh là Notarius, có nghĩa là viết, ghi chép.6 Công chứng ra đời, tồn tại và phát triển xuất phát từ nhu cầu cần có một công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch trong nền kinh tế hàng hóa7.
Trong các bản dịch và từ điển, thuật ngữ “công chứng” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Công chứng là “cơ quan có chức năng chứng thực và quản lý giấy tờ, khế ước”8. Công chứng là “hệ thống các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ chứng nhận các quyền đã rõ ràng và những sự kiện có ý nghĩa pháp lý, chứng thực các giấy tờ và thực hiện những hành vi khác nhằm ghi nhận về mặt pháp lý các quyền dân sự và phòng ngừa khả năng vi phạm các quyền đó sau này”9. Công chứng cũng có thể được hiểu là “việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện các việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.”10 6 Nguyễn Văn Thảo (1993), “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam”, Thông tin khoa học pháp lý của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ tư pháp, (số Chuyên đề năm 2008), tr. 7 Tuấn Đạo Thanh (2006), “Bàn về hai mô hình tổ chức công chứng”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (số 9/2006), tr.
8 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, năm 1999, tr. 9 “Thuật ngữ pháp lý phổ thông”, NXB Pháp lý, Hà nội – 1986, tập 1, tr. (Bản dịch từ tiếng Nga, NXB Pháp lý Matxcơva – 1973) 10 Tô Tử Hạ (2003), Từ điển hành chính, NXB Lao động xã hội, Hà nội – 2003, tr. 6 Việc xác định rõ khái niệm công chứng là một trong những vấn đề mấu chốt của hoạt động công chứng.
Khái niệm công chứng là một vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ các vấn đề khác liên quan đến công chứng, đặc biệt là xây dựng thể chế, xác định mô hình tổ chức đảm bảo phát huy vai trò công chứng và hiệu quả công chứng trong đời sống xã hội. Ở Việt Nam, trải qua hơn 20 năm thành lập và phát triển, khái niệm về công chứng mới chỉ được nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước11. Đánh dấu cho sự ra đời của công chứng, Thông tư số 574/QLTPK, ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước quy định: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Ngắn gọn hơn và không đi sâu vào nội dung cụ thể của quá trình thực hiện công chứng như Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987, Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước không định nghĩa công chứng nhà nước là “một hoạt động của nhà nước” mà là “việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ”, đồng thời khẳng định giá trị chứng cứ của các hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng. Tuy nhiên khái niệm công chứng còn chung chung, chưa làm rõ bản chất của việc chứng nhận tính xác thực đối với các hợp đồng: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công 11 Lê Thị Phương Hoa (2005) “Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay”, Thông tin khoa học pháp lý của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ tư pháp, (số 8+9/2005), tr. 7 dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”12 Khác với các khái niệm nêu trên, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước đã lược bỏ cụm từ “nhà nước” trong phần định nghĩa về công chứng, xác định nội hàm của việc công chứng, mục đích của hoạt động công chứng và giá trị của văn bản công chứng,13 nhưng chưa thể hiện rõ tính chuyên môn, chuyên nghiệp hóa trong hoạt động công chứng, chưa phân biệt giữa công chứng và chứng thực: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”.14 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về Công chứng, chứng thực đã có sự tách bạch giữa công chứng và chứng thực xác định công chứng là việc của phòng công chứng và nâng cao vai trò của công chứng là chứng nhận tính xác thực của các “hợp đồng, giao dịch" thay vì chứng nhận tính xác thực của các “hợp đồng, giấy tờ”, nhưng vẫn chưa xác định được chủ thể chủ yếu của hoạt động công chứng là công chứng viên: “Công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, 12 Điều 1, Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. 13 Nguyễn Văn Toàn (2005) “Công chứng Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hướng theo mô hình công chứng la-tinh”, Thông tin khoa học pháp lý của Viện khoa học pháp lý - Bộ tư pháp, (số 01/2005), tr. 14 Điều 1, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. 8 kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này”.15 Việc thể hiện cụ thể trong các khái niệm công chứng nêu trên có sự khác nhau, song có sự giống nhau về cơ bản: Công chứng là xác nhận tính xác thực của hợp đồng, giao dịch khác.
Mục đích của công chứng là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và tổ chức ở trong và ngoài nước, ngăn ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Điều 2 của Luật Công chứng năm 2006 quy định “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.” Trong khái niệm nêu trên về công chứng có một số điểm quan trọng sau đây: Một là, công chứng là hành vi của công chứng viên. Điều này phân biệt với hành vi chứng thực của người đại diện của cơ quan hành chính công quyền. Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ.16 Hai là, tính xác thực của hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận.
Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch khác là vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo cho chúng có giá trị chứng cứ. Trong pháp luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thực của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng cứ. Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được công chứng viên xác nhận. Tính xác thực này được công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngay khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện 15 Điều 2, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về Công chứng, chứng thực.
16 Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về Công chứng, chứng thực. 9 chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau, (ví dụ sự tự nguyện của các bên khi ký kết hợp đồng), và do đó, nếu không có công chứng viên xác nhận, thì khi có tranh chấp xảy ra tòa án không thể xác minh được. Ba là, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận. Đây là điểm khác biệt giữa trường phái công chứng nội dung (Công chứng hệ Latinh) và trường phái công chứng hình thức (Công chứng hệ Anglosaxon).