Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VE XÃ HỘI HOA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1. Quan niệm về dịch vụ công và hoạt động công chứng 1. Quan niệm về dịch vụ công Dịch vụ công là một loại dịch vụ không trực tiếp tạo ra sản phẩm, dựa trên nhu câu thiết yếu của xã hội, được thực hiện khi có yêu câu. Dịch vụ công không loại trừ bất kỳ ai.
Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “Public Service”) là khái nệm chỉ hoạt động thỏa mãn nhu cầu lợi ích thiết yếu của đông dao dân chúng do cơ quan, tổ chức nhà nước cung cấp như một cách thực hiện chức năng, phục vụ của Nhà nước. Theo xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, việc xã hội hóa các địch vụ công nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng thụ hưởng của người dân nhanh hơn, nhiều hơn, giảm tải cho một SỐ cơ quan, t6 chức nhà nước khi cung cấp dịch vụ tới người dân, đây là một chủ trương, một việc làm có ý nghĩa to lớn giúp thúc đây việc cải cách nên hành chính công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, điển hình là việc cho phép thành lập các văn phòng công chứng. Qua thực tiễn nền hành chính công ở nước ta, có thể khái niệm: “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ lợi ích chưng, thiết yếu, các quyên và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bang”. Lê Thị Trang (2018), Xã hội hóa dich vụ hành chính công - Thực tiễn tại huyện Thạch Thất, thành phó Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
9 8 “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyên, lợi ích hợp pháp của công dân và tô chức, do Nhà nước trực tiếp đảm nhiệm hay tty quyền cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm bao dam trật tự lợi ích chung và công bằng xã hội ””. Từ đó có thé đưa ra khái niệm: Dich vụ công là hoạt động phục vụ nhu cẩu, lợi ích chung thiết yéu của dân ching, gắn với chức năng phục vu của Nhà nước phù hop với kinh tế - xã hội và chỉ xuất hiện khi có yêu cầu của dân chúng và xã hội. Dịch vụ công gồm hai loại: Dịch vụ hành chính công và dịch vụ công cộng. Dịch vụ hành chính công là nhóm các hoạt động có mối liên hệ mật thiết với việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, có sự giao tiếp với người dân, chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp đảm nhận, nhằm cai quản các công việc của xã hội, duy trì kỷ cương xã hội, bảo dam quyển dân chủ va các quyền hợp pháp khác của công dân, bắt buộc người dân phải tuân thủ (như đăng ký kết hôn, khai sinh, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến việc thực thi pháp luật, không nhằm mục đích lợi nhuận, đo cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các tổ chức, doanh nghiệp do Nhà nước ủy nhiệm có thâm quyền cấp một số loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực ma co quan, tổ chức nhả nước quản lý (Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước và Khoản 3 Diéu 3 Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 của Chính phú về việc cung cấp 7. Lê Chi Mai (2003), Cải cách địch vụ công ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 452 9 thông tin và dịch vụ trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước). Dịch vụ hành chính công phô biến: cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận; lập và cấp bản sao; các hoạt động xác nhận dé tạo lập giá trị pháp lý cho các văn bản, giấy to như công chứng, chứng thực, xác nhận các loại giấy tờ: các hoạt động cung cấp thông tin, tư van chính sách, pháp luật, cấp bản mẫu giấy tờ, tài liệu.
Tại nhiều nước, dich vụ hành chính công còn được hiểu là các địch vụ được cung cấp cho các cơ quan nhà nước, nhất là các cơ quan ở địa phương bởi các tổ chức chuyên nghiệp (có thê của nhà nước hoặc tư nhân) như các dịch vụ về nhân sự, tài chính, kế toán, kiểm toán. Dịch vụ công cộng là các hoạt động phục vụ trực tiếp lợi ích công cộng, bao gồm các nhu cầu thiết yếu, co ban trong đời sống con người (như cung cấp điện, nước, giáo dục, y té. Đối với địch vụ công cộng, Nhà nước có thể cung ứng hoặc chuyên giao cho tư nhân, tổ chức ngoài nhà nước cung ứng, Nhà nước chi đóng vai trò quản lý, định hướng, điều tiết, kiểm soát nhằm bảo đảm công bằng trong phân phối các dịch vụ. Từ những quan niệm nêu trên có thê nhận thấy dịch vụ công có những đặc điểm sau: Thứ nhát, dich vụ công 1a hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cau, lợi ích chung thiết yếu của nhân dân và phục vụ việc thực hiện các quyền va nghia vu cua ca nhan, tô chức.
Mỗi cá nhân từ khi được sinh ra đến khi mat đi hoặc tổ chức kề từ thời điểm được thành lập cho đến khi cham dứt (giải thé, phá sản) thì họ đều được quyển yêu cầu các cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các cá nhân, tổ chức được Nhà nước ủy nhiệm dé cung cấp dịch vụ công gắn liền với quyên lợi và nghĩa vụ mà quy định của pháp luật quy định họ đương nhiên được thụ hưởng, ví dụ 10 như: được đăng ký giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, được khám và chữa bệnh tai các trung tâm y tế mà mình yêu thích, được thụ hưởng dịch vụ công chứng tại bat kỳ tổ chức hành nghề công chứng nào mà ho mong muốn. Thứ hai, việc cung cấp dịch vụ công gắn liền với trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức, kiểm soát chất lượng và bảo đảm cung ứng dịch vụ công cho xã hội và dân cư. Dịch vụ công do cơ quan, đơn vị của Nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức do Nhà nước Ủy quyền thực hiện. Đối với những dịch vụ công được chuyên giao cho các cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện đặt dưới sự quản lý của cơ quan nha nước.
Theo đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyên sẽ có những chủ trương, kế hoạch về việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đối với các cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ công trong suốt thời gian hành nghé. Ví dụ: Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và các co quan nhà nước có thẩm quyền khác được quyển kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đối với việc tổ chức thành lập và cung cấp dịch vụ công chứng của công chứng viên hoặc các tổ chức hành nghề công chứng, nếu có hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm đạo đức hành nghề công chứng. Thứ ba, dịch vụ công được cung cấp cho tất cả moi cá nhân, tổ chức theo nguyên tắc bao dam bình đẳng hưởng thu. Mỗi cá nhân, tổ chức bat ké là ai, họ đến từ đâu va họ làm nghề gì.
đều bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trong việc hưởng thụ dịch vụ công mà họ mong muốn, mà bất kỳ một cá nhân hoặc tổ chức nào can thiệp hay cắm cản. Sự bình đẳng trong hưởng thụ còn thé hiện ở nhu cầu sử dụng dịch vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Theo đó, nếu nhu cầu sử dụng nhiều địch vụ công, dịch vụ công tốt hơn thì mỗi cá nhân, tổ chức sẽ phải trả phí nhiều hơn so với các cá nhân, tô chức khác. Ví dụ: Đối với việc khám và chữa bệnh, nếu cá nhân mong muốn sử dụng dịch vụ khám và chữa bệnh tại các bệnh viện tư 11 nhân, được tiếp cận với trang thiết bị y tế hiện đại, cơ sở vật chất tốt, sự chăm sóc và phục vụ tận tình, chu đáo.
thì họ sẽ phải trả phí dịch vụ nhiều hơn so với dịch vụ y tế tại các bệnh viện của Nhà nước. Thứ tr, dịch vụ công được cung cấp không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Việc cung cấp dịch vụ có thê có thu phí, lệ phí, tuy nhiên mức phí không phan ảnh day đủ giá dịch vụ. Dich vụ công được cung cấp không thông qua quan hệ thị trường day đủ, có nghĩa là dịch vụ công ra đời không dựa trên quan hệ thị trường, ma các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công phải do cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các cá nhân, tô chức do Nhà nước ủy nhiệm cung cấp dựa trên nhu cầu thiết yêu của nhân dân.
Đồng thời, người dân phải trả một phần hoặc toàn bộ phí, lệ phi thay vì Nhà nước bao cấp. Số phí, lệ phí này không phan ánh day đủ giá tri của dịch vụ, bởi quan hệ giữa bên cung cấp và bên thụ hưởng dịch vụ công không phải là quan hệ dân su/thuong mại thuần túy. Thứ năm, phi, lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi thụ hưởng dịch vụ công. (i) Phi là khoản tién/chi phí mà các cá nhân, tổ chức chi trả dé bu đắp lại cho việc cung cấp dịch vụ của cơ quan, tô chức nhà nước hoặc các tổ chức, doanh nghiệp được Nhà nước trao quyển cung cấp dịch vụ công.
Ví dụ: Người dân phải tra phí công chứng do các tổ chức hành nghé công chứng đã chứng nhận hợp đồng, giao dịch cho họ. (ii) Lệ phi là một khoản tiền do cơ quan nhà nước ấn định cụ thể mà các cá nhân, tổ chức phải chi trả khi thụ hưởng dịch vụ công. Ví dụ: lệ phí cấp hộ chiếu được Nhà nước ấn định cụ thé, bắt buộc người dân phải chi trả khi sử dụng dịch vụ công này. Từ những đặc điểm nêu trên, có thé phân biệt giữa dịch vụ công với quản lý nhà nước và dịch vụ dân sự/ thương mại, cụ thé như sau: 12 Thứ nhất, dịch vụ công có tính chất phục vụ, không sử dụng quyển lực nhà nước.
Còn hoạt động quản lý nhà nước mang tính chất mệnh lệnh, điều hành, chỉ đạo trên cơ sở quyển lực nhà nước. Trong khi đó, dịch vụ dân su/ thương mại mang tính chất phục vụ trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng giữa các bên.