Mở đầu, Nội dung, Kết luận và khuyến nghị. Phần nội dung bao gồm 5 chƣơng, trong đó Chƣơng 1 sẽ tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2 trình bày cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu. Chƣơng 3 phân tích vốn xã hội của phụ nữ trong các hoạt động chuẩn bị sản xuất, cụ thể là mua nguyên liệu, tiếp thu kỹ năng, áp dụng kỹ thuật, công nghệ và vay vốn tài chính.
Chƣơng 4 bàn về vốn xã hội của phụ nữ trong tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp, bao gồm huy động nhân công và thuê gia công sản xuất. Chƣơng 5 của luận án quan tâm đến vốn xã hội của phụ nữ trong quá trình tiêu thụ sản phẩm. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Dẫn nhập Do nhận đƣợc sự quan tâm của đông đảo nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực, số lƣợng nghiên cứu về vốn xã hội khá đồ sộ từ nghiên cứu lý thuyết đến những nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả luận án quan tâm đến các nghiên cứu về vốn xã hội trong hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất tiểu thủ công nghiệp để nắm đƣợc vấn đề nghiên cứu đã đƣợc các tác giả đi trƣớc đề cập đến ở mức độ nào. Từ đó, luận án sẽ chọn lựa và kế thừa kết quả các nghiên cứu, là cơ sở để tìm hiểu những nội dung chƣa hoặc ít đƣợc bàn đến. Phần tổng quan dƣới đây sẽ trình bày về vốn xã hội nói chung và vốn xã hội của phụ nữ theo các khâu sản xuất: Chuẩn bị nguyên liệu; Tiếp thu kỹ năng, áp dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất; huy động vốn tài chính; thuê mƣớn nhân công; tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để phù hợp với các nội dung thực tiễn mà tác giả tìm hiểu.
Có thể thấy, các nghiên cứu nói tới vốn xã hội trong các công đoạn sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn hạn chế. Do đó, phần tổng quan này không chỉ đề cập đến các nghiên cứu về tiểu thủ công nghiệp mà những nghiên cứu về quá trình sản xuất nói chung của các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hoặc các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp ở nông thôn để phù hợp với quy mô sản xuất phổ biến ở hai làng nghề khảo sát. Ở mỗi công đoạn sản xuất, tác giả tìm hiểu các nghiên cứu đi trƣớc đã phát hiện vốn xã hội có từ đâu, đƣợc sử dụng ra sao để các chủ thể có đƣợc những nguồn lực cần thiết cho sản xuất. Hƣớng nghiên cứu về vốn xã hội trong chuẩn bị nguyên liệu sản xuất Tác giả Nguyễn Vũ Quỳnh Anh (2015) có một nghiên cứu về thực trạng sử dụng và vai trò của vốn xã hội trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ của ba làng nghề đồng bằng sông Hồng là: làng nghề gốm sứ Bát Tràng (Bắc Ninh), làng nghề mộc Hữu Bằng (Thạch Thất, Hà Nội), làng nghề tái chế kim loại màu Văn Ô, Xuân Phao (Văn Lâm, Hƣng Yên).
Giữa doanh nghiệp và ngƣời bán nguyên liệu có sự tin tƣởng lẫn nhau nên phƣơng thức giao dịch tƣơng đối thuận tiện. Đa số chỉ gọi điện mua nguyên liệu để cửa hàng mang đến, làm giảm thời gian 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và chi phí tìm và thu mua nguyên liệu sản xuất. Đặc thù của làng nghề ở nông thôn Việt Nam là sƣ tƣơng trợ lẫn nhau. Các doanh nghiệp chịu sự ràng buộc, quy định của cộng đồng làng xã về cách thức ứng xử trong cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh [Nguyễn Vũ Quỳnh Anh, 2015] Tác giả Birley (1985) đã đề cập đến sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đối với ngƣời kinh doanh về nguyên liệu thô, trang thiết bị, không gian, ngƣời lao động… Điều đó đặc biệt quan trọng đối với ngƣời bắt đầu khởi sự kinh doanh ở một thị trƣờng mới [Birley, 1985].
Shresha (2015) quan tâm đến vấn đề xây dựng vốn xã hội trong quan hệ hợp tác sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Nepal. Những ngƣời tham gia cùng nhóm nông nghiệp đã hỗ trợ nhau khi các thành viên gặp khó khăn về nguyên liệu sản xuất nhƣ phân bón và hạt giống [Shrestha, 2015]. Nghiên cứu của Abenakyo & cộng sự cho thấy những hộ gia đình có vốn xã hội cao huy động đƣợc nhiều tài sản nhƣ các đồ dùng gia đình (quần áo, giƣờng tủ, bàn ghế), các tài sản hữu hình (xe đạp, xe máy, đài phát thanh, điện thoại di động, điện thoại), công cụ sản xuất (cuốc, rìu, máy bơm phun, xe rùa) và gia súc. Vốn xã hội cao hoặc thấp trong nghiên cứu đƣợc các tác giả quy ƣớc số lƣợng các nhóm, tổ chức mà hộ gia đình đó tham gia [Abenakyo & cộng sự, 2007].
Trong nghiên cứu của Siberge & cộng sự (2017), việc mua và tổng hợp một số nguyên liệu thô có thể khó khăn cho một doanh nhân. Đối với các doanh nghiệp vi mô, họ sẽ lấy vật liệu từ trang trại của đồng nghiệp. Bởi vì những ngƣời này có thể trồng các vụ khác nhau để có nguyên liệu tổng hợp ở những thời điểm khác nhau của năm. Chẳng hạn, một số loại cây hàng năm nhƣ ngô không có sẵn nếu trƣớc mùa vụ, họ có thể thay thế bằng cây lâu năm (nhƣ lá chuối).
Bên cạnh đó, họ có thể tận dụng trang trại của bạn bè, các thành viên trong gia đình mở rộng và các nhà máy chế biến thực phẩm để có đƣợc nguyên liệu thô cho phân bón hữu cơ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu của Huse (2014) cho thấy những doanh nghiệp sản xuất bia thủ công ở Na-uy thƣờng dựa vào một mạng lƣới chính thức hoạt động tốt (well- functioning) để nhập các nguyên liệu từ nhà cung cấp nƣớc ngoài. Bởi vì thị trƣờng nguyên liệu sản xuất bia không đƣợc thiết lập tốt ở Na-uy. Tuy nhiên, sau đó họ đã bắt đầu sử dụng các nguyên liệu từ địa phƣơng để tạo nên tính độc đáo cho sản phẩm [Huse, 2014].
Nhƣ vậy, các nghiên cứu đã cho thấy có vốn xã hội tồn tại trong quan hệ giữa ngƣời sản xuất và ngƣời bán nguyên liệu. Điều đó đƣợc phản ánh qua phƣơng thức đặt hàng thuận lợi và không mất thời gian là gọi điện thoại. Một số tác giả đã chỉ ra ngƣời thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những ngƣời cùng cộng đồng sản xuất đã hỗ trợ, giúp đỡ nguyên liệu cho ngƣời sản xuất trong giai đoạn khởi sự kinh doanh hoặc gặp khó khăn về nguyên liệu đầu vào. Vốn xã hội cao (đƣợc tính bằng số lƣợng các tổ chức trong cộng đồng mà thành viên trong gia đình tham gia) là lợi thế để ngƣời sản xuất huy động công cụ lao động và nguyên liệu sản xuất.
Hƣớng nghiên cƣ́u về vốn xã hội trong tiếp thu kỹ năng sản xuất, áp dụng công nghệ sản xuất và gia công sản phẩm Trƣơng Thị Nga đã nghiên cứu vốn xã hội ở một vùng ven đô của thành phố Hà Nội. Các gia đình làm cùng nghề trong làng thƣờng xuyên học hỏi và chia sẻ, truyền đạt kinh nghiệm cho những ngƣời trong mạng lƣới xã hội mình quen biết để cùng làm ra những sản phẩm có chất lƣợng phục vụ cho ngƣời tiêu dùng. Việc giúp đỡ nhau về kiến thức, kinh nghiệm chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm bạn bè với 38,5% [Trƣơng Thi Nga, ̣ 2013]. Nghiên cứu của Teshome & cộng sự (2011) bàn về lợi ích phi kinh tế mà các hiệp hội tự nguyện mang lại cho phụ nữ ở Ethiopia.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các thành viên hiệp hội nhận đƣợc những lợi ích về xã hội cao hơn kinh tế. Cụ thể, phụ nữ tham gia các hiệp hội giúp tăng cƣờng mối quan hệ, sự đoàn kết với ngƣời dân địa phƣơng. Họ cũng đƣợc củng cố sự tự tin vào bản thân và lòng tin đối với cộng đồng. Khi gặp khó khăn hay có ngƣời thân/họ hàng qua đời, họ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc các thành viên khác giúp đỡ, giảm sự căng thẳng, buồn đau.
Những hiệp hội này không giúp đỡ các thành viên về tiền bạc, tín dụng hay tín chấp ngân hàng. Tuy nhiên, phụ nữ đƣợc học hỏi và cung cấp thông tin từ những thành viên có trình độ học vấn, vị thế kinh tế xã hội khác nhau. Mặc khác, không hỗ trợ vốn vay, phụ nữ trong các hiệp hội đƣợc hỗ trợ về nguyên liệu và lao động [Teshome & cộng sự, 2011]. Nghiên cứu của Shrestha đã cho thấy các thành viên hợp tác cá nhân (individual cooperative members) tiếp cận với công nghệ và thông tin.
Khi họ thăm các trang trại của ngƣời khác, họ có thể thấy các thành viên khác đang làm thứ gì đó mới mẻ. Họ học đƣợc từ kinh nghiệm của ngƣời khác và cố gắng sử dụng kiến thức và kỹ năng họ đã quan sát khi sản xuất ở trang trại của họ. Khi tham gia vào các tổ chức tự nguyện, các thành viên học hỏi kiến thức và kinh nghiệm của các thành viên khác và những ngƣời hiểu biết. Họ thƣờng tìm kiếm lời khuyên từ những thành viên có kinh nghiệm nếu gặp vấn đề gì trong làm ăn.
Đặc biệt ngƣời đứng đầu giúp đỡ các thành viên truyền đạt kiến thức và kỹ năng cho các thành viên khác [Shrestha, 2015]. Nghiên cứu của Hoàng & cộng sự (2006) đã cho thấy một phát hiện tƣơng tự ở một cộng đồng nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam. Những nông dân địa phƣơng đã sử dụng vốn xã hội co cụm khi tiếp cận các công nghệ trồng lúa hiện đại. Những ngƣời đƣợc tham dự các lớp tập huấn nông nghiệp thƣờng về truyền đạt các kiến thức cho ngƣời thân, họ hàng.
Khi có vấn đề về sản xuất, họ thƣờng trao đổi với họ hàng thân thiết. Đây cũng là kênh thông tin phi chính thức quan trọng đối với ngƣời dân địa phƣơng trong khi tiếp cận của họ đối với phƣơng tiện truyền thông hạn chế và thiếu sự tƣơng tác trực tiếp với chính quyền địa phƣơng và các thiết chế khác. Bên cạnh ngƣời thân và họ hàng, những ngƣời nông dân đƣợc khảo sát còn tiếp thu đổi mới công nghệ từ những ngƣời hàng xóm. Họ đƣợc nghe công nghệ từ hàng xóm hoặc nhìn bản thử nghiệm trong trang trại của hàng xóm [Hoàng & cộng sự, 2006].
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Abenakyo & cộng sự (2007) đã nghiên cứu vốn xã hội và sinh kế của các gia đình nông dân ở Uganda.