Khảo sát viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tại khoa Hồi sức, BVĐK TP. Vinh

Nghiên cứu tỷ lệ viêm tĩnh mạch sau đặt catheter ngoại biên tại khoa hồi sức. Phân tích các yếu tố lâm sàng, người bệnh và catheter có liên quan.

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2023

69
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và định nghĩa viêm tĩnh mạch sau đặt catheter

Viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên là một trong những tai biến muộn phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng hiện đại. Đây là tình trạng viêm nghiêm trọng xảy ra tại vị trí lưu catheter tĩnh mạch ngoại biên (CTMNV), có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như nhiễm khuẩn huyết, huyết khối tĩnh mạch và tắc mạch nếu không được phát hiện sớm. Theo các nghiên cứu quốc tế, tỷ lệ viêm tĩnh mạch dao động từ 1,8% đến 60% tùy thuộc vào phương pháp đánh giá và địa điểm thực hiện. Việc hiểu rõ khái niệm này giúp các nhân viên y tế nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và phòng ngừa các biến chứng nặng.

1.1. Định nghĩa viêm tĩnh mạch ngoại biên

Viêm tĩnh mạch ngoại biên là phản ứng viêm của thành tĩnh mạch tại vị trí đặt catheter. Tình trạng này có thể được xác định thông qua các triệu chứng lâm sàng như sưng, nóng, đỏ, đau tại vị trí lưu catheter và được đánh giá theo thang điểm INS Phlebitis Scale. Mức độ viêm được phân từ 0 đến 5, trong đó mức độ 2 trở lên được coi là viêm tĩnh mạch cần được xử trí và rút catheter.

1.2. Tầm quan trọng của phòng ngừa

Phòng ngừa viêm tĩnh mạch là một phần quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân và đảm bảo an toàn y tế. Việc nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và thực hành đúng các quy trình chăm sóc catheter có thể giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng này, từ đó cải thiện kết quả điều trị toàn diện.

II. Thực trạng viêm tĩnh mạch tại các cơ sở y tế Việt Nam

Tại Việt Nam, viêm tĩnh mạch sau đặt catheter là một vấn đề sức khỏe công cộng không thể bỏ qua, đặc biệt trong các khoa phòng chịu áp lực cao như Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2023 cho thấy tỷ lệ viêm tĩnh mạch ngoại biên ở mức đáng quan tâm, với nhiều bệnh nhân phải chịu đựng các biến chứng liên quan. Các yếu tố như thời gian lưu catheter, loại dịch truyền, vị trí đặt cathetersố lần đặt lại đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm. Sự hiểu biết rõ ràng về thực trạng hiện tại là nền tảng để xây dựng các chiến lược phòng ngừa hiệu quả và nâng cao chất lượng chăm sóc.

2.1. Tỷ lệ viêm tĩnh mạch tại các bệnh viện

Các báo cáo từ các bệnh viện lớn tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ viêm tĩnh mạch ngoại biên thay đổi từ 10% đến 40% tùy theo quy mô nghiên cứu. Điều này cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các cơ sở y tế trong việc quản lý và phòng ngừa viêm tĩnh mạch, đòi hỏi cần có các can thiệp chuẩn hóa.

2.2. Những khó khăn trong phòng ngừa

Các thách thức chính bao gồm tình trạng quá tải tại các khoa ICU, thiếu nhân lực y tế được đào tạo về chăm sóc catheter, và việc không kiểm tra định kỳ vị trí đặt catheter. Ngoài ra, tuân thủ các quy trình vô khuẩn còn không nhất quán giữa các nhân viên y tế khác nhau.

III. Các yếu tố liên quan đến viêm tĩnh mạch ngoại biên

Các yếu tố liên quan đến viêm tĩnh mạch sau đặt catheter rất đa dạng và phức tạp, bao gồm cả yếu tố từ bệnh nhân, yếu tố lâm sàng và yếu tố kỹ thuật. Nghiên cứu cho thấy tuổi, BMI, tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân có ảnh hưởng đến nguy cơ viêm. Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan đến catheter như loại catheter, thời gian lưu catheter, vị trí lưu kim, số lần đặt lại cũng là những yếu tố quan trọng. Các chất truyền vào như thuốc, dịch truyền, chế phẩm máu cũng có thể làm tăng nguy cơ viêm tĩnh mạch. Hiểu rõ những yếu tố này giúp nhân viên y tế chủ động phòng ngừa và giảm biến chứng.

3.1. Yếu tố từ bệnh nhân

Tuổi cao, chỉ số BMI cao, suy dinh dưỡng, bệnh lý nền như tiểu đường, viêm nhiễmtình trạng miễn dịch suy yếu là những yếu tố tăng nguy cơ viêm tĩnh mạch ngoại biên. Bệnh nhân cao tuổi có khả năng chống viêm kém hơn, trong khi những bệnh nhân suy dinh dưỡng có thể có thành tĩnh mạch yếu hơn.

3.2. Yếu tố liên quan đến catheter và kỹ thuật

Thời gian lưu catheter dài (>7 ngày), đường kính catheter lớn, vị trí đặt catheter (cánh tay dưới tay hoặc chân tăng nguy cơ), và số lần phải đặt lại do catheter bị tắc hoặc xuyên đều tăng nguy cơ viêm tĩnh mạch. Kỹ thuật đặt không vô khuẩn cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng.

IV. Biện pháp phòng ngừa và quản lý viêm tĩnh mạch

Phòng ngừa viêm tĩnh mạch ngoại biên là ưu tiên hàng đầu trong quản lý catheter tĩnh mạch ngoại biên. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm tuân thủ quy trình vô khuẩn khi đặt catheter, chăm sóc hàng ngày tại vị trí lưu catheter, kiểm tra định kỳ vị trí đặt, rút catheter đúng lúc (không nên lưu quá 7 ngày trừ khi cần thiết), lựa chọn vị trị đặt catheter hợp lýtheo dõi các dấu hiệu viêm tĩnh mạch như sưng, nóng, đỏ tại vị trí. Ngoài ra, đào tạo thường xuyên cho nhân viên y tế và xây dựng quy trình chuẩn hóa là những yếu tố quan trọng để giảm tỷ lệ viêm tĩnh mạch.

4.1. Các biện pháp phòng ngừa cơ bản

Đặt catheter bằng kỹ thuật vô khuẩn, sử dụng dung dịch sát khuẩn trước khi đặt, giáo dục bệnh nhân về chăm sóc vị trí lưu catheter, và đổi băng định kỳ là những biện pháp nền tảng. Rửa tay trước khi chăm sóc cathetersử dụng găng tay vô khuẩn cũng rất quan trọng để ngăn chặn nhiễm khuẩn.

4.2. Xử trí khi phát hiện viêm tĩnh mạch

Khi phát hiện các dấu hiệu viêm tĩnh mạch theo thang điểm INS Phlebitis Scale mức độ 2 trở lên, rút catheter ngay lập tức là biện pháp cần thiết. Tiếp theo, theo dõi sát sao vị trí cũ, áp dụng nước nóng để giảm đau và sưng, và có thể kê đơn thuốc chống viêm nếu cần thiết. Ghi chép chi tiết về tình trạng viêm và các yếu tố liên quan giúp xác định nguyên nhân và cải thiện chăm sóc.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về catheter tĩnh mạch ngoại biên 1. Giới thiệu về catheter tĩnh mạch ngoại biên Catheter đặt trong lòng mạch: là loại ống được làm bằng vật liệu tổng hợp, đưa vào trong lòng mạch nhằm chẩn đoán và điều trị người bệnh. Catheter tĩnh mạch ngoại biên là dụng cụ y khoa có thiết kế chính bao gồm hệ thống van một chiều và van hai chiều, hệ thống ống dẫn trong đó ống nhựa bao bọc sát ống dẫn kim loại, khi đưa vào lòng tĩnh mạch sẽ loại bỏ ống dẫn kim loại và cố định ống nhựa.

Đầu catheter mềm nên khi người bệnh cử động không gây tổn thương thành mạch. Catheter tĩnh mạch ngoại biên thường được đặt trong tĩnh mạch ở cẳng tay và cánh tay, có chiều dài dưới 8cm.1 Trong nghiên cứu này sử dụng hai loại catheter tĩnh mạch ngoại biên là Catheter tĩnh mạch ngoại biên an toàn của hãng Braun cỡ 22G và Catheter tĩnh mạch ngoại biên của hãng Temuro số 24G. Catheter tĩnh mạch ngoại biên an toàn của hãng Braun được trang bị các tính năng an toàn bổ sung để tránh sự cố y khoa liên quan đến vật sắc nhọn. Tĩnh mạch trị liệu bằng catheter tĩnh mạch ngoại biên Một trong các kết quả được đưa ra từ những cuộc khảo sát về thực trạng tiêm an toàn vào những thời điểm khác nhau (2002, 2005, 2008) đó là tỷ lệ người bệnh được kê đơn sử dụng thuốc tiêm khá cao (71,5%).3 Do đó đưa thuốc vào cơ thể người bệnh bằng đường tiêm là một kỹ thuật cơ bản và quan trọng của người điều dưỡng.

Đối với từng loại thuốc và mục đích sử dụng mà thuốc có thể được đưa bằng các đường tiêm khác nhau như tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm trong da hay tiêm tĩnh mạch. Trong đó tiêm tĩnh mạch thường được ưu tiên sử dụng với ưu điểm tác dụng nhanh và giảm sự đau đớn cho người bệnh. 4 Kỹ thuật tiêm truyền tĩnh mạch được thực hiện bằng catheter tĩnh mạch ngoại biên là phương pháp tiêm, truyền tĩnh mạch sử dụng loại kim làm bằng ống nhựa mềm luồn vào trong lòng tĩnh mạch. Lợi ích của sử dụng catheter tĩnh mạch ngoại biên là catheter có thể luồn sâu và cố định chắc chắn vào trong lòng tĩnh mạch, đầu kim lại mềm nên tránh được sự va chạm với thành mạch khi người bệnh thay đổi tư thế hoặc di chuyển, đặc biệt trong trường hợp người bệnh giãy giụa.

Catheter tĩnh mạch ngoại biên được sử dụng trong những trường hợp người bệnh có chỉ định cần phải tiêm, truyền nhiều lần trong ngày hoặc phải duy trì tiêm, truyền nhiều ngày tạo sự an toàn và thoải mái cho người bệnh trong thời gian sử dụng thuốc bằng đường tĩnh mạch. Sử dụng catheter tĩnh mạch ngoại biên khắc phục được nhược điểm của kim sắt (gây chệch ven, xuyên mạch, đau trong quá trình tiêm truyền…). Hiện tại kỹ thuật đặt CTMNV được sử dụng rộng rãi trong các cơ sở điều trị, mang lại nhiều tiện ích và hiệu quả cho cả người bệnh và điều dưỡng. Với CTMNV được lưu trong một khoảng thời gian, người bệnh sẽ không phải chịu những lần lấy kim mới và người điều dưỡng sẽ rút ngắn được thời gian khi dùng thuốc cho người bệnh, cũng như giảm được các tai biến khi thực hiện kỹ thuật lấy kim mới góp phần làm giảm áp lực công việc cho người điều dưỡng.

Chỉ định và chống chỉ định đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên Chỉ định: Các trường hợp người bệnh cần hồi sức cấp cứu: sốc, trụy mạch, suy hô hấp, hôn mê, ngừng tuần hoàn… Tiêm, truyền thuốc qua đường tĩnh mạch Truyền dịch liên tục Truyền dịch ngắt quãng Truyền máu và các chế phẩm của máu Trước khi làm thủ thuật, phẫu thuật, các thuốc cản quang… Các trường hợp cần nuôi dưỡng tĩnh mạch ngắn ngày 5 Chống chỉ định: Rối loạn đông máu (chống chỉ định tương đối) Huyết khối tĩnh mạch Giãn tĩnh mạch ngoại biên Sốt xuất huyết 1. Các tai biến có thể xảy ra khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên Tai biến sớm: Đâm nhầm vào động mạch. Xử trí: Rút ngay catheter, băng ép tại điểm đâm catheter, theo dõi dấu hiệu chảy máu tại chỗ. Thoát mạch: do chệch catheter, vỡ tĩnh mạch.

Xử trí: Rút catheter, chuyển vị trí truyền sang chi khác, thường xuyên kiểm tra bằng bắt mạch và làm dấu hiệu làm đầy mao mạch. Tụ máu: Do chảy máu vào tổ chức xung quanh hoặc catheter xuyên qua mạch máu. Xử trí: Rút catheter, Băng ép quanh nơi tụ máu bằng gạc lạnh. Tuột Catheter: Do cố định không chắc hoặc do người bệnh tự rút truyền.

Xử trí: Rút catheter. Tai biến muộn: Viêm tĩnh mạch. Xử trí: Rút catheter, chườm ấm, báo bác sĩ, ghi chép tình trạng và những xử trí. Nhiễm khuẩn tại chỗ.

Xử trí: Rút catheter, chuyển vị trí truyền sang chi khác, báo bác sĩ, theo dõi chăm sóc vị trí nhiễm khuẩn. Nhiễm khuẩn toàn thân: do không tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn khi thực hiện kỹ thuật/ chăm sóc vùng truyền kém/ người bệnh suy giảm miễn dịch/ lưu catheter. Một số tai biến khác: Co thắt tĩnh mạch, kích ứng tại nơi truyền: do truyền dịch/máu lạnh; kích ứng tĩnh mạch do thuốc hoặc dịch; tốc độ truyền quá nhanh. Xử trí: Áp 6 miếng gạc ấm lên vùng truyền (Có thể sử dụng máy làm ấm dịch truyền).

Giảm tốc độ truyền. Quá tải tuần hoàn: do tốc độ truyền quá nhanh. Xử trí: Cho người bệnh nằm đầu cao 30-45 độ. Thở oxy nếu cần.

Báo bác sĩ để có hướng xử trí phù hợp. Dị ứng thuốc. Xử trí: Ngừng truyền, phối hợp với bác sĩ xử trí sốc phản vệ theo phác đồ. Một số tai biến ít gặp hơn: Tổn thương dây chằng, dây thần kinh: do kỹ thuật chọc không đúng hoặc cố định chặt quá.

Xử trí: Ngừng truyền, báo bác sĩ. Tắc mạch do khí. Xử trí: Ngừng truyền. Đặt người bệnh ở tư thế Trendelenburg.

Báo bác sĩ, cho người bệnh thở oxy theo chỉ định. Ghi chép các xử trí và can thiệp đã làm. Lựa chọn vị trí, chăm sóc và thay thế catheter tĩnh mạch ngoại biên Lựa chọn vị trí, chăm sóc catheter tĩnh mạch ngoại biên: Ở người lớn, nên sử dụng mạch máu ở chi trên. Trong trường hợp phải đặt đường truyền ở chi dưới nên chuyển vị trí đặt từ chi dưới lên chi trên nếu có thể thay đổi.

Ở trẻ em, nên ưu tiên chi trên. Trong trường hợp không còn nơi khác, có thể đặt ở chi dưới hoặc vùng da đầu lành lặn. Tránh sử dụng kim bằng thép để truyền dịch và thuốc, do nguy cơ gây hoại tử mô và có thể thấm dịch ra ngoài mạch máu. Nên sử dụng ống catheter có độ dài trung bình đặt vào mạch máu trung tâm khi thời gian điều trị kéo dài trên 6 ngày.

Cần thăm khám hằng ngày bằng quan sát trực tiếp để phát hiện dấu hiệu sưng, nóng, đỏ của vị trí đặt catheter khi sử dụng loại băng keo trong. Không nên tháo bỏ bông gạc vô khuẩn che phủ vị trí đặt catheter chỉ để xem nếu không có dấu hiệu nhiễm khuẩn. 7 Rút bỏ catheter trong trường hợp có sưng, nóng, đỏ, đau tại vị trí đặt hoặc có những dấu hiệu NKH có liên quan đến đặt catheter. Thay thế catheter tĩnh mạch ngoại biên: Ở người lớn, không nên thay catheter ngoại biên thường quy trước 72– 96 giờ.

Thay catheter ở trẻ em chỉ khi có những chỉ định trên lâm sàng. Chỉ thay catheter có độ dài trung bình khi có chỉ định lâm sàng đặc biệt như viêm mao mạch, NKH. Tình hình áp dụng kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên Catheter tĩnh mạch ngoại biên là ống thông thường được sử dụng nhất trong các bệnh viện. Đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên khi người bệnh nằm điều trị trong bệnh viện, là một thao tác thường gặp trong chăm sóc, chẩn đoán, theo dõi và điều trị.

Có tới 70% người bệnh cần đường tĩnh mạch ngoại biên trong thời gian nằm viện và 200 triệu catheter tĩnh mạch ngoại biên được sử dụng mỗi năm tại một bệnh viện cấp cứu của Hoa Kỳ.7 Tại Australia tỷ lệ catheter tĩnh mạch ngoại biên được sử dụng trên nhóm đối tượng nghiên cứu là 86.6% số catheter mạch máu đặt cho người bệnh là catheter tĩnh mạch ngoại biên được xác định trong một nghiên cứu tại Tây Ban Nha.8,9 Tại Việt Nam, catheter tĩnh mạch ngoại biên được sử dụng cho người bệnh từ rất lâu ở hầu hết các bệnh viện đặc biệt là người bệnh tại khoa cấp cứu – hồi sức và phẫu thuật. Năm 2009, bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì đã bắt đầu sử dụng catheter tĩnh mạch ngoại biên cho người bệnh nội trú và năm 2012 tiến hành lưu catheter tĩnh mạch ngoại biên thường quy cho trẻ nằm điều trị nội trú.10 Tại khoa HSCC Bệnh viện Tim mạch An Giang, catheter tĩnh mạch ngoại biên được đặt thường quy cho tất cả các người bệnh vào khoa.11 Catheter tĩnh mạch ngoại biên cũng được sử dụng cho tất cả người bệnh trong khoa sơ sinh – BV nhi Quảng Nam có chỉ định tiêm truyền tĩnh mạch nhiều lần trong ngày.4 Với mục đích lấy máu xét nghiệm và thực hiện y lệnh điều trị, 8 catheter tĩnh mạch ngoại biên đã được đặt cho tất cả người bệnh mới vào nhập viện tại khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, tác giả Lê Thị Hương (2012) đã đánh giá hiệu quả sử dụng catheter tĩnh mạch ngoại biên cho người bệnh mới vào viện là tương đối tốt.5 Tại Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, catheter tĩnh mạch ngoại biên được sử dụng ở hầu hết các khoa lâm sàng với mục đích tiêm truyền thuốc, đặc biệt tại các khoa có nhiều người bệnh nặng, khoa có người bệnh có chỉ định phẫu thuật thì việc đặt và lưu catheter tĩnh mạch ngoại biên trở thành kỹ thuật thường quy khi người bệnh nhập viện và người bệnh chuẩn bị phẫu thuật giúp cho việc xử trí người bệnh khi có diễn biến bất thường được diễn ra nhanh chóng và thuận tiện. Với các khoa khối nội số lượng người bệnh đông và dùng nhiều loại thuốc truyền thì kỹ thuật đặt và lưu catheter tĩnh mạch ngoại biên được ưu tiên sử dụng để giảm áp lực công việc cho người điều dưỡng. Theo thống kê của bệnh viện, tổng số các loại CTMNV được sử dụng cho người bệnh trong năm 2017 là 57.236 chiếc cao hơn 10 lần so với năm 2016, và trong 6 tháng đầu năm năm 2018 tổng các loại CTMNV đã sử dụng là 25.

Viêm tĩnh mạch sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên Kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên là một kỹ thuật phổ biến, được sử dụng trong hầu hết các bệnh viện từ tuyến cơ sở cho đến trung ương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ