CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các công trình nghiên cứu về di dân tại Việt nam Vào những năm 90, nền kinh tế mở cửa theo định hướng thị trường đã tạo ra các mô hình mới của di dân nội địa với các lý do làm việc hoặc học tập. Tuy các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn Thành phố được phép tuyển dụng người ngoại tỉnh vào làm việc, song chỉ giới hạn trong chỉ tiêu cho phép.
Tiếp đó việc quản lý được thực hiện thông qua cơ chế nhập hộ khẩu. Trong những năm 80, luồng di cư nông thôn - nông thôn là một trong những hình thức phổ biến của di dân nội địa tại Việt Nam. Đây là các luồng di chuyển theo các chương trình tái định cư. Vào cuối năm 1986, Chính phủ bắt đầu tiến hành quá trình cải cách kinh tế, công cuộc đổi mới này đã có những tác động toàn diện và sâu sắc tới nhiều khía cạnh của kinh tế và có tác động mạnh tới di cư, và làm tăng lên đáng kể số lượng di cư đến các vùng đô thị.
Ước tính số người di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh dao động từ 70.Tại Hà Nội ước tính khoảng 40% trong số 55.000 người của số tăng cơ học hàng năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác vào. Số lượng người di dân vào các đô thị Việt Nam là phù hợp với chiến lược phát triển đô thị của Chính phủ. Theo tinh thần của Quyết định số 1998/QĐ-TTG ngày 23/01/1998, thủ tướng chính phủ phê chuẩn về hướng dẫn quy hoạch và phát triển đô thị trên cơ sở dự đoán gia tăng dân số đô thị có thể tăng lên tới 45% vào năm 2020. Một số đề tài gần, với những nghiên cứu về di dân, nguồn nhân lực di cư, những vấn đề của dân nhập cư, cùng với những định hướng và giải pháp là những tài liệu cần được khai thác của đề tài.
Năm 1992, trong khuôn khổ dự án quốc gia VIE/89/P03 do quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc(UNFPA) tài trợ, 12 Viện kinh tế TP.HCM chủ trì đề tài “Di dân đến thành phố Hồ Chí Minh: những vấn đề và giải pháp” do PTS Bạch Văn Bảy chủ nhiệm. Đây là cuộc điều tra mẫu đầu tiên về người di dân được thực hiện trên địa bàn 17/18 quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh (trừ huyện Duyên Hải, nay là huyện Cần Giuộc). Nội dung của đề tài đưa ra thực trạng và phân tích về các vấn đề như thành phần và đặc điểm cá thể, hộ gia đình và các điều kiện cư trú, quá trình di chuyển, việc làm, thu nhập, mức sinh, kế hoạch hóa gia đình, các dự tính trong tương lai và hệ quả của người nhập cư đối với thành phố. Từ việc nghiên cứu đó, đề tài đã đi đến kết luận “Người nhập cư là nguồn bổ sung quan trọng về số lượng và chất lượng lao động trong thành phố.
Những yếu tố lực hút của thành phố và lực đẩy của các tỉnh cũng được chỉ ra và dự báo một sự gia tăng đáng kể về nhập cư trong thời gian tới ngoài yếu tố kinh tế còn có việc lôi cuốn theo gia đình và các quan hệ hôn nhân. Thành phố cần chú trọng đầu tư các vùng lân cận để giữ dân, hợp thức hóa người nhập cư đã có cuộc sống ổn định tại thành phố”. Năm 1994, trong luận án thạc sĩ của mình, Ông Trương Sĩ Ánh cũng đã tóm lược tình hình di dân và đô thị hóa ở TP.HCM trong thời kỳ đó với đề tài “Điều tra về di dân, đô thị hóa, nguồn nhân lực và việc làm” được thực hiện vào năm 1994. Đồng thời trên cơ sở kết quả của cuộc điều tra di dân tại TP.HCM năm 1990, tác giả đã phân tích các hình thái và kết quả của các luồng nhập cư từ các tỉnh vào TP.HCM cùng với những vấn đề về chính sách được đặt ra cho chính quyền thành phố nhằm đối phó và giải quyết những vấn đề có liên quan đến người nhập cư.
Trong phần kết luận tác giả cho rằng luồng nhập cư vào TP.HCM là một xu hướng phát triển không thể đảo ngược của quá trình đô thị hóa đang diễn ra trong cả nước. Vì vậy, thành phố nên có quan điểm chấp nhận thực tế khách quan đó và đề ra các chính sách tập trung 13 vào việc quản lý và hỗ trợ người nhập cư hơn là tìm cách hạn chế số lượng người nhập cư bằng các biện pháp hành chính. Điều tra vào năm 1994 đã cho thấy sự phát triển các dòng di dân tự do. Dòng di dân nông thôn - thành thị đã trở thành một nhân tố quan trọng của sự tăng trưởng dân số đô thị và sự phát triền của TP.HCM, vốn là một trung tâm lớn của sự phát triển vùng phía Nam của Việt Nam và là một trung tâm chính thu hút những người di chuyển.
Nhìn chung những người di chuyển đã tìm thấy việc làm rất nhanh ngay sau khi họ đến thành phố. Dòng di dân nông thôn - thành thị ngày càng tăng dần lên vì kinh tế phát triển và nhu cầu chỗ làm việc gia tăng lên. Tuy nhiên diễn tiến hiện nay cần được theo dõi kỹ và tình hình việc làm có thể xấu đi. Ngay từ bây giờ cần có những kiến nghị để quan tâm một cách đặc biệt việc đầu tư ở khu vực nông thôn, nhằm giảm thiểu sự cách biệt về điều kiện sống so với các thành phố, và nhằm phát triển các thành phố trung bình, nơi mà tiến trình đô thị hóa có thể dễ dàng điều khiển hơn.
Ngoài ra, tiến trình đô thị hóa tăng tốc ấy phải được quan tâm như một sự kiện quan trọng và việc thiết kế đô thị phải thích ứng với nó. Hai tác giả Nguyễn Bích Phượng và Nguyễn Hải Loan trong đề tài “nghiên cứu Quá trình thích nghi với đời sống đô thị của nữ công nhân mới di cư vào thành phố Hồ Chí Minh” do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh chủ trì năm 2005 đã tập trung nghiên cứu những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nữ công nhân nhập cư vào thành phố. Đó là vấn đề thực trạng di cư, hoàn cảnh gia đình, chỗ ở, việc làm, chi phí cho cuộc sống, tích lũy, sức khỏe, phương tiện di chuyển, đời sống tinh thần của nữ công nhân mới nhập cư. Qua đó các tác giả đã đánh giá quá trình thích nghi cũa nữ công nhân tạm cư, đồng thời cho thấy việc thực hiện chính sách cho người lao động của doanh nghiệp và đề xuất những chủ trương, biện pháp thực hiện và kiến nghị các cấp có sự quan tâm đúng mức, nhằm sử dụng lao 14 động đạt hiệu quả cao, hạn chế những tiêu cực.
Trong tham luận Dân nhập cư với vấn đề phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội, số 1/2007 Ths Lê Văn Thành đã cho thấy được quy mô và tốc độ dân nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh. Tham luận phân tích kỹ đặc điểm của người nhập cư như nguồn gốc, độ tuổi, giới tính, học vấn, chuyên môn và lý giải nguyên nhân của sự nhập cư. Tác giả cũng đã cho thấy khả năng tiếp cận các dịch vụ đô thị của người nhập cư, vấn đề quản lý xã hội, hành chính, nghĩa vụ và quyền lợi của người nhập cư… Cũng liên quan đến người nhập cư, Ths Trần Đan Tâm trong bài viết “Vấn đề của người nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh” đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội số 4/2007 cho thấy những khó khăn của người nhập cư vào thành phố, đó là nhà ở, điều kiện hạ tầng, giáo dục, y tế, tiếp cận tín dụng, dịch vụ đô thị, sự hội nhập về kinh tế và xã hội…Từ đó, tác giả đưa ra bốn khuyến nghị nhằm giúp người dân nhập cư giảm thiệt thòi phải chịu khi sống và làm việc tại thành phố. Đề tài “Tác động của chính sách đăng ký cư trú hiện nay tới việc giảm nghèo đô thị” do Trung tâm Nghiên cứu xã hội thuộc Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ và tổ chức VeT Vietnam (Villes en Transition) thực hiện, được triển khai tại TP.HCM tháng 5 – 2005, bên cạnh việc phản ánh những hạn chế mà người nhập cư đang phải đối mặt khi gia nhập vào xã hội đô thị trên các lĩnh vực như điều kiện sống, tham gia hoạt động chính trị, hoạt động cộng đồng, thụ hưởng phúc lợi xã hội, còn cố gắng phân tích sâu vào các khía cạnh đóng góp của người nhập cư vào kinh tế đất nước (bao gồm cả nơi xuất cư và nơi nhập cư).
Từ đó, đề tài đã có những kết quả đóng góp cho các nhà lập chính sách để có thể có được các luật lệ chính thức bao hàm được tất cả mọi tầng lớp dân cư trong xã hội Việt Nam theo xu hướng coi vấn đề di dân 15 như là nguồn lực cho sự phát triển đất nước Luận án Phó Tiến Sĩ Khoa học kinh tế của Nguyễn Lê Minh, trường ĐH Kinh tế Quốc dân “Tạo việc làm cho người lao động ở đô thị Việt Nam” tìm hiểu tổng hợp các vấn đề tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở đô thị, hình thành một luận chứng khoa học phục vụ cho một số quyết định quản lý trong lĩnh vực đó. Luận án Phó Tiến Sĩ khoa học Kinh Tế Quốc dân của Trịnh Khắc Thâm “ Cở sở Khoa học của di dân ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” làm rõ và đề xuất một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Khái niệm, bản chất, hình thái, hiệu quả của di dân, về mối quan hệ gữa di dân - phân bố dân cư với phân công lao động xã hội cũng như các nhân tố cơ bản tác động tới quá trình di dân và phân công lao động theo lãnh thổ nhằm làm rõ những nguyên lý cơ bản về tính tất yếu cơ bản tính tất yếu khách quan của di dân và phân bố lại dân cư 1. Về Trí thức Thực ra nghiên cứu về tri thức nói chung ở Việt Nam cũng đã có nhiều và được nghiên cứu từ lâu. Nhiều mặt, nhiều khía cạnh của vấn đề tri thức được các nhà khoa học đề cập.
Nhiều đề tài nghiên cứu về tri thức Việt Nam đã được công bố. Các cuộc điều tra xã hội học rộng lớn về đề tài tri thức đã được tiến hành cung cấp nhiều số liệu và thông tin bổ ích về giới trí thức Việt Nam. Song trong việc nghiên cứu từng lĩnh vực, từng phạm vi, từng đối tượng cụ thể về giới tri thức Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống.