Chương 1 DẪN NHẬP 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Tình thái trong Việt ngữ học – những quan niệm ban đầu Tình thái là một trong những vấn đề gần đây được giới Việt ngữ học bắt đầu tập trung chú ý. Tuy nhiên đến nay, về cơ bản, tình thái chưa phải là một thuật ngữ ngôn ngữ học quen thuộc với nhiều người, nhất là với nhiều người không làm việc chuyên nghiệp về ngôn ngữ học.
Chỉ riêng thuật ngữ “tình thái” thôi cũng đã từng gây ngỡ ngàng, thậm chí gây thắc mắc, cho không ít người Việt; và nhiều người đã có những nhầm lẫn rất tai hại trong cách hiểu thuật ngữ này. Một số người, thường là những người “ngoại đạo” về ngôn ngữ học, mỗi khi bắt gặp thuật ngữ này bèn tự nhủ rằng, có lẽ ở đây đã xảy ra chuyện viết/đánh máy nhầm giữa “hình thái” với “tình thái”. Và không ít trong số họ tự tiện chữa lại thành “hình thái”, vì họ cho rằng như thế quen thuộc hơn với mọi người. Thực tế này cho thấy một cách không thể chối cãi rằng, tình thái là vấn đề còn rất xa lạ với nhiều người; và cũng chính thực tế này còn có thể cho thấy rằng, tình thái là vấn đề mà nhà trường phổ thông của ta chưa chú ý giảng dạy một cách có hệ thống trong chương trình học.
Vì nếu không thì ít ra người ta dù là “ngoại đạo” về ngôn ngữ học nhưng nếu đã qua chương trình tú tài cũng sẽ không tự tiện chữa hai chữ “tình thái” thành hai chữ “hình thái”(1). Còn với một số người khác – trong đó có không ít những người đã kinh qua ít nhiều ở các trường lớp về ngôn ngữ học, từng có dịp nghe nhắc đến thuật ngữ “tình thái” trong sách vở ngôn ngữ học – thì lại có thể hiểu hai chữ này theo kiểu “chiết tự” đầy cám dỗ: tình thái là tình cảm và thái độ; tức là tất cả những gì có liên quan đến tình cảm, đến thái độ, đến sự biểu cảm của con người trong khi nói năng. Một (1) Bản thân người viết luận án này, trong khi thực hiện một đề tài nghiên cứu cấp Bộ về vị từ tình thái, đến lúc nghiệm thu đã nhận được một Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đồng ý cho nghiệm thu, mà trong đó tên đề tài “vị từ tình thái” đã bị chữa thành “vị từ hình thái”. Trang 5 cách hiểu như thế ở trường hợp dưới, nhìn trong cái nhìn nhà nghề của giới chuyên môn, có khi còn tệ hại hơn nhiều so với sự ngộ nhận ở trường hợp trên.
Thực tế này phản ánh, cũng theo một cách không thể chối cãi rằng, câu chuyện tình thái là câu chuyện mà đối với người Việt nói chung và đối với ngay chính cả nhiều người trong giới Việt ngữ học vẫn đang còn là một câu chuyện chưa mấy quen thuộc, đến mức là những người làm nghiên cứu về vấn đề này như chúng tôi tự thấy rõ là cần phải xuất phát từ chuyện cơ bản nhất: tình thái là gì? Câu trả lời không thể có ngay ở đây. Thậm chí chưa chắc đã có thể có được một cách đầy đủ ở những trang cuối cùng của luận án, một khi người đọc thật sự chia sẻ với người viết quy mô cũng như độ phức tạp của vấn đề tình thái qua những trình bày tiếp theo. Ngay tại vị trí này của luận án, chúng tôi chỉ muốn bắt đầu từ việc trình bày một ví dụ cụ thể sau đây, phân tích nó để giữa người viết và người đọc xác lập được một khái niệm ban đầu rất sơ lược về tình thái; và hiểu rõ với nhau rằng đó chỉ mới là khái niệm làm việc. Về cơ bản, đến nay trong giới ngôn ngữ học đều đễ dàng thừa nhận với nhau rằng, trong một câu như: 1.
Nam nỡ đánh Lan. có hai thành phần thông tin được phân biệt với nhau. ¾ Thành phần thứ nhất: các thông tin biểu đạt khung SỰ KIỆN của câu. Đó là sự kiện “Nam đánh Lan”.
Trong đó, lõi của sự kiện này là đánh, và hai “nhân vật” tham gia vào chuyện đánh ở hai “vai” khác nhau là Nam (chủ thể) và Lan (đối tượng). ¾ Thành phần thứ hai: là những THÔNG TIN KÈM THEO SỰ KIỆN có liên quan đến thái độ/nhận xét của người nói đối với cái sự kiện mà anh ta nói ra; và trong câu trên thông tin này được xác lập bằng sự có mặt của từ nỡ. Thành phần thứ nhất được gọi là Ngôn liệu (Lexis/Dictum); còn thành phần thứ hai gọi là Tình thái (Modality). Tất nhiên, trong thực tế, những gì được gọi là tình thái không đơn giản chỉ là những từ như nỡ, cũng không đơn giản chỉ là những thông tin liên quan đến thái độ/nhận xét của người nói đối với sự kiện anh ta nói ra.
Hơn nữa, những thông tin này không hẳn lúc nào cũng được biểu thị hiển ngôn bằng Trang 6 một thành phần từ ngữ nào đó, mà có khi còn được thể hiện bằng những phương tiện ngoài từ ngữ. Chi tiết của vấn đề sẽ được đề cập đến ở các chương sau. Điều chúng tôi muốn lưu ý ở đây là, phần lớn những gì liên quan đến các thông tin kèm sự kiện được trình bày trong câu nói sẽ thuộc phạm vi quan tâm của luận án này. Chúng tôi cũng xin được bày tỏ thêm rằng, phát biểu vừa rồi chỉ tạm thời đề ra giới hạn của phạm vi quan sát chứ hoàn toàn chưa phải là tuyên ngôn về đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Và, một cách vắn tắt, có thể nói rằng, quan tâm nghiên cứu về tình thái là quan tâm nghiên cứu một vấn đề cực kỳ quan trọng của thế giới ngôn từ. Vì rằng, như chúng ta đều biết, thế giới hiện thực (reference world) khi được phản ánh trong nhận thức của người nói bằng phương tiện ngôn ngữ chắc chắn phải được “tái cấu trúc” dưới áp lực nhận thức của người đó để trở thành một thế giới khác – thế giới được phản ánh (expressed world). Theo đó, tình thái có thể được xem là sự áp đặt các nhân tố của nhận thức lên các sự kiện của thế giới hiện thực được phản ánh trong câu nói; và bằng cách đó mà con người có được một sự kiện mới phù hợp với nhận thức riêng của từng cá nhân. Như vậy có nghĩa là, khi chạm đến vấn đề tình thái, chúng ta thật sự có cơ hội để quan sát một cách sâu sắc hơn quá trình lập mã ngôn ngữ – một quá trình có thể được hình dung gồm hai công đoạn: công đoạn sao phỏng sự kiện (fact imitation) và công đoạn cá nhân hoá (personalization).
Công đoạn thứ nhất là công đoạn mà con người tìm cách gọi tên sự kiện và các thành tố của nó. Kết quả của quá trình này trong các ngôn ngữ khác nhau tuy có đôi chút khác biệt nhưng về cơ bản đều cho ta các khung sự tình. Còn công đoạn thứ hai là công đoạn mà con người tìm cách phủ các nhân tố thuộc về nhận thức cá nhân lên khung sự kiện được sao phỏng trong câu nói. Công đoạn thứ hai này vốn dĩ chứa đựng nhiều điều phức tạp và tinh tế gắn liền không chỉ với những xu hướng nhận thức cá nhân mà còn với những tập quán và nếp văn hoá của người tham gia giao tiếp.
Chính công đoạn thứ hai này là công đoạn liên quan nhiều nhất đến việc phát sinh nghĩa tình thái trong câu. Những trình bày vắn tắt vừa trên cho thấy, việc nghiên cứu tình thái hứa hẹn mở ra những hướng đi triển vọng trong nghiên cứu và ứng dụng ngôn ngữ. Nội dung nghiên cứu của đề tài Có thể phân biệt hai dạng tình thái dựa vào thành phần chất liệu của chúng là từ ngữ tình thái và dấu hiệu tình thái. Từ ngữ tình thái xuất hiện một cách hiển ngôn trong câu dưới dạng những thành phần từ ngữ được phân xuất rõ ràng và được nhận diện trong sự phân biệt với các từ ngữ ngôn liệu như vừa nói ở trên.
Trong khi đó các dấu hiệu tình thái thì lại chỉ là những sắc thái được kèm vào một thành phần ngữ âm, từ ngữ hoặc cấu trúc để đánh dấu các chỉ tố tình thái. Các dấu hiệu tình thái cũng bao hàm trong nó hiện tượng mà các chỉ tố tình thái được kèm vào nghĩa của một từ ngữ nào đó thành một nét nghĩa, một sắc thái tu từ của từ đó, chẳng hạn trong nghĩa của một từ như hy sinh có một sắc thái tình thái khiến cho từ này được phân biệt với chết cũng như với những từ khác trong chuỗi đồng nghĩa với nó; và sắc thái này cũng làm thành lý do để từ hy sinh tồn tại trong hệ thống từ vựng tiếng Việt mà không vi phạm một “nguyên tắc vàng” của ngôn ngữ là tiết kiệm ký hiệu. Luận án này không quan sát các dấu hiệu tình thái mà chỉ tập trung quan sát một kiểu từ ngữ tình thái được gọi là vị từ tình thái. Từ ngữ tình thái xuất hiện trong câu được quan niệm là những tác tử (operator) tác động vào cấu trúc khung sự kiện của câu và làm biến đổi sự kiện ấy đi dưới những thông số của nhận thức cá nhân.
Có thể hình dung khái quát điều này qua mô hình (x)S, trong đó S là khung sự kiện của câu, còn (x) là tác tử tình thái được kèm theo. Thực tế quan sát cứ liệu ngôn ngữ cho thấy thêm rằng, các từ ngữ tình thái (x) có thể tham gia vào cấu trúc câu ở hai dạng: dạng đính kèm (attachment) và dạng nhúng (embedding). Ở dạng đính kèm, các từ ngữ tình thái thường xuất hiện ở những vị trí đầu và cuối của sự kiện trong câu. Có thể xem chúng như những “nhãn” (label) được “dán” thêm vào sự kiện; và chúng thường không can thiệp vào tổ chức cấu trúc của sự kiện.
Chúng đứng bên ngoài cấu trúc sự kiện, tác động vào sự kiện bằng cách phủ lên sự kiện các ý nghĩa tình thái mà chúng đánh dấu. Hình như Nam đi Sài Gòn 3. Nam đi Sài Gòn thì phải 4. Tôi nghĩ là Nam đi Sài Gòn 5.
Nam đi Sài Gòn ư? Trang 8 Ở dạng nhúng, các từ ngữ tình thái lại không đứng ngoài cấu trúc sự kiện mà tham gia vào cấu trúc sự kiện, kết hợp và tác động vào từng thành phần riêng lẻ của sự kiện, trở thành một “nút” (node) trong cấu trúc sự kiện. Sự có mặt của chúng trong sự kiện làm cho cấu trúc của sự kiện được tổ chức lại ở những mức độ khác nhau. Đôi khi chúng ta không tránh khỏi cảm giác tri nhận các yếu tố tình thái ấy như là những thành phần cơ hữu trong khung sự kiện của câu.