VI DIỆU PHÁP NHỰT DỤNG Hòa Thƣợng U Janaka (Tu viện Mahagandayone - Amarapura, Miến Điện) Thiện Nhựt Phiên Dịch VÔ MÔN THIỀN TỰ ẤN TỐNG Phật Lịch 2558 - D.L 2014 Namo Tassa Bhavagato Arahato Sammasambuddhassa Con Xin Thành Kính Đảnh Lễ Đức Thế Tôn Bậc A La Hán Cao Thƣợng Đấng Chánh Biến Tri Thiện-Nhựt Phỏng dịch Vi-Diệu-Pháp Nhựt-Dụng ABHIDHAMMA IN DAILY LIFE By ASHIN JANAKABHIVAMSA Translated and Edited by U Ko Lay 1997 Tìm-Hiểu và Học Tập 2000 Tái Ấn Tống Phật Lịch 2558 – D. 2014 ASHIN JANAKABHIVAMSA Of Mahagandayone Monastery, Amarapura Writing and Preparing the scriptures Thành-kính Tri-ân: Chí tâm đảnh lễ: Ngài Ashin Janakabhivamsa, Tác giả quyển Ko Kyint Abhidhamma. Trân trọng ghi ơn: Giáo-sư U Ko Lay, Dịch giả quyển Abhidhamma in Daily Life. Thân-kính tặng: Đạo-hữu Diệu-Nhẫn Nguyễn Tú Anh, Ngƣời thƣờng nhắc nhở tôi thực tập Thiền Minh-sát, khuyến-khích tôi phỏng dịch quyển sách này.
Mến tặng: Diệu-Hảo Dương-thị Tuấn-Anh, nhà tôi & các con: Huỳnh-thị Thanh-Trúc, Huỳnh-thị Thanh-Tuyền, Huỳnh-thị Thanh-Thảo, Huỳnh-thị Thanh-Tước, Huỳnh-thị Thanh- Tâm, Huỳnh-thị Thanh-Lan. Montreal, 2000-05-07 Thiện-Nhựt HUỲNH-HỮU-HỒNG Vi Diệu Pháp Nhật Dụng VÀI LỜI XIN THƢA TRƢỚC Kính thưa, Tôi đã chẳng biết liệu sức mình khi nhận lời yêu-cầu của đạo-hữu Diệu-Nhẫn để phỏng dịch quyển Khảo-luận Abhidhamma in Daily Life do Ngài Ashin Janakabhivamsa sáng-tác bằng tiếng Miến-điện, đƣợc U Ko Lay dịch sang tiếng Anh. Tôi cứ tƣởng hễ mình đọc và hiểu đƣợc tiếng Anh là có thể viết lại những gì mình vừa đọc sang tiếng Việt ngay. Nhƣng tôi đã lầm rất nặng khi bắt tay vào việc, vì tôi cảm thấy số vốn Anh-văn của mình chẳng đủ để phản-chiếu lại lối hành-văn trang-trọng của U Ko Lay.
Tôi đã lầm vì đã quá đinh-ninh cuốn Từ-điển Pali-English của Rhys Davids sẽ giúp tôi tra đƣợc hết nghĩa các danh-từ chuyên-môn Phật-học của Nam-tông. Đã lắm phen tôi vò đầu, bức tóc mà chẳng đến gần đƣợc nghĩa thâm-sâu của lắm đoạn trong quyển Khảo-luận mà nội dung rất cao-siêu huyền-diệu. Nhƣng đã dấn bƣớc, và nhờ lòng ham muốn học-hỏi thêm thúc-đẩy, tôi cũng viết lại đƣợc gần hai trăm trang những gì mà tôi hiểu còn lỏm-bỏm trong rừng giáo- lý do Ngài Asin Janakabhivamsa truyền lại. Tôi lại xin thú-tội thêm, trong khi viết lại, tôi có thêm vào khá nhiều danh-từ thƣờng dùng trong Bắc-tông, vì lẽ khi dịch, tôi còn chƣa chắc danh-từ mình dùng có theo sát với nghĩa mà tác giả muốn nói hay không.
Những chữ tôi thêm vào nhƣ thế đều đƣợc đánh máy bằng chữ cỡ nhỏ ở trong dấu ngoặc, để ngƣời đọc đừng lầm mà gán cho tác- giả, khiến tôi phải đắc tội thêm. Trong bản chữ Anh, các đoạn ghi là Maxim, tôi đã vô-lễ dịch là Ghi-nhớ, mà chẳng 7 Hòa Thượng U Janaka dùng chữ Cách-ngôn, vì lẽ theo nghĩa tiếng Việt, chữ Cách- ngôn có nghĩa khác với nội-dung của các Maxims trong Quyển Luận. Các tiểu-mục cũng đƣợc tôi tự-động đánh số thêm vào, để tiện tra-cứu lại. Tôi những tƣởng sẽ bỏ cuộc giữa chừng vì gặp phải nhiều đoạn nói đến các cảnh-giới trên Trời và dƣới địa- ngục, làm sao mình có đủ tiếng để dịch.
Còn nhiều điểm thâm-sâu khác nữa mà sức hiểu-biết nông-cạn của tôi chƣa vƣơn lên đến nổi, những mong đƣợc ngƣời đọc rộng-lƣợng tha-thứ. Vài hàng chơn-thành tha-thiết mong ngƣời đọc tha cho lời lẽ quê-mùa cục-mịch của tôi và nghĩ đến nghĩa-lý sâu-xa của tác- giả, vì chính chỗ này mới là điều quan-trọng cho ta học-tập. Ngƣỡng mong trên có các bực cao-minh thƣơng-tình chỉ dạy thêm và xung quanh có các bạn-đạo vui lòng mách cho chỗ vụng-về, thiếu-sót. Trân-trọng! Thiện-Nhựt, Montreal, 2000-04-05 8 Vi Diệu Pháp Nhật Dụng SỬ (TÓM-TẮT) CỦA TÁC-GIẢ Ashin Janakabhivamsa Aggamahapandita Nayaka Sayadaw of Mahagandharama Monastery Amarapura, Mandalay Division Sanh: 1900-02-27 tại làng Thayine, thị-xã Wetlet, quận Shwebo, hạt Sagaing.
Cha: U Zaw Ti; Mẹ: Daw Ohn Hline 1905: năm tuổi đƣợc nhận làm Sa-di (samanera) tại tu- viện địa-phƣơng. 1918: thi đậu bằng Pathamagyi của Chánh-phủ, về Văn- phạm (Gramma), Giới-luật (Vinaya), Luận-tạng (Abhidhamma) và Trƣờng-Bộ-Kinh (Digha Nikaya). 1919: thọ-giới Tỳ-kheo, pháp-danh U Janaka. 1919-1926: theo học tại hai tu-viện lớn ở Mandalay và Pakhokku về Giáo-điển Pali cao-cấp.
1926: thủ-khoa khóa thi Pathamagyaw của Chánh-phủ. 1928: tốt-nghiệp giáo-khoa Sakyasiha-teacher với danh- hiệu Pariyatti Sasanahita Dhammacariya. Giảng dạy giáo-lý và trƣớc-tác nhiều quyển khảo-luận giúp cho các đệ-tử và cả các ngƣời thế-tục. Đến khi quân-đội Nhựt đổ bộ lên Miến-điện, Ngài Janakabhivamsa, cùng với năm ngƣời đồng-tu, đến trụ- 9 Hòa Thượng U Janaka trì tại tu-viện cổ Maha Gandharama, 12 dặm về phía Đông-nam thành-phố Mandalay.
Công-cuộc trùng- tu và chấn-chỉnh đƣờng lối giảng dạy giáo-lý đã biến ngôi cổ-tự thành một trung-tâm giáo-khoa với 500 tỳ-kheo theo học và 97 tịnh-xá do các tƣ-nhơn cúng-dƣờng. Nhận danh-hiệu Aggamahapandita, bực Thƣợng-Thủ Trí- thức, do Tổng-thống đầu tiên nƣớc Miến-điện độc- lập ban-cấp. 1954, tháng 5: tại Đại-hội Kết-tập Kinh-điển kỳ Sáu, giữ chức cố-vấn các Tiểu-ban: Chattha Sangiti Ovada Cariya Sangha Nakaya; giữ nhiều nhiệm-vụ trong Đại- hội kỳ Sáu: Chattha Sangiti Bharamittharaka; chủ-biên các văn-kinh Pali, Chatta Sangiti Palipativisodhaka; duyệt-đọc các bản văn-kinh ở giai- đoạn chót, Osanasidheyya Pattapathaka. Sách sáng-tác: 74 quyển (14 quyển về Văn-phạm, 14 quyển về Luật-tạng, 14 quyển về Luận-tạng, 8 quyển về Kinh-tạng và 24 quyển linh-tinh về giáo-lý).
Sách đạo dành cho ngƣời thế-tục có quyển ―Vi-diệu- pháp nhựt-dụng‖ và quyển ―Mười tháng cuối-cùng của Đức Phật‖ đƣợc sáng-tác vào những tháng cuối-cùng của Ngài. Ngài viết xong quyển tự-thuật đời mình là ―Tabhava Samsara‖, 13 ngày trƣớc khi viên-tịch. 1977-12-27: viên-tịch sau một cơn đau nhẹ, thọ 78 tuổi. 10 Vi Diệu Pháp Nhật Dụng LƢỢC TRÍCH BÀI TỰA CỦA U KO LAY (Bài tựa của U Ko Lay khá dài, chỉ xin trích ghi lại các điểm chánh) (1) – Cơ-duyên chuyển-dịch sang Anh-ngữ: Quyển ―Abhidhamma in Daily Life‖ dịch từ nguyên- tác bằng Miến-ngữ là ―Ko Kyint Abhidhamma‖, xuất-bản từ năm 1933 và tái-bản 13 lần đến năm 1995.
Đầu năm 1996, vị chủ-tịch Phật-giáo-hội Nguyên- thủy Miến-điện, U Kyi Nyunt, yêu cầu giáo-sƣ U Ko Lay, Viện Đại- học Kaba-Aye, Yangon, duyệt lại bản dịch Anh- ngữ và cho xuất-bản, sau khi đƣợc Hội-đồng Trƣởng-lão Tu-viện Maha Gandharama chấp-thuận. Mặc dầu rất bận việc, U Ko Lay vẫn nhận lời, vì mối giao-tình trƣớc đây với tác-giả. Trong việc duyệt-xét lại, U Ko Lay đƣợc sự trợ- giúp của U Khin Maung Kyi, Cao-học Văn-chƣơng Anh và Báo-chí Hoa-kỳ. Nhƣng chƣa đƣợc bao lâu thì vị cộng-tác- viên trẻ bị tai-nạn lƣu-thông qua đời, U Ko Lay phải gánh trách-nhiệm phiên-dịch và xuất- bản vào năm 1997.
U Ko Lay khiêm-nhƣợng nói: “Mặc dầu bản dịch đầu-tiên do nhiều người phụ viết, nhưng việc soạn-thảo cuối-cùng đã do chính tôi làm, nên chỉ có mình tôi phải chịu trách-nhiệm về mọi thiếu-sót có thể tìm thấy trong dịch-bản. 11 Hòa Thượng U Janaka Gánh nặng cho ra đời quyển sách này, mặc dầu do người bạn đạo thân-tình U Kyri Nyunt trao cho tôi, nhưng tôi rất vui mà nói đó là một công-việc thật thích-thú tôi làm với cả một tấm lòng thiết-tha mộ-đạo. Vả lại Ngài Trưởng- Lão Hòa-Thượng (Tác-giả) cũng chẳng phải là người xa-lạ đối với tôi. Ngày tôi còn theo học ở trường Trung-học hạt Sagaing, tôi thường được nghe thấy Hòa-thượng từ ngôi tự- viện Maha Gandharama, ở ngang sông, mang sang những sách vở về Văn-phạm Pali, các bản bình-luận, khảo-cứu về Kinh-tạng, cho các tỳ-kheo và học-sinh đang theo đuổi việc nghiên-cứu Tam-Tạng Kinh-Điển…” (2) – Ba quyển sách đạo dành cho người thế-tục: Quyển Abhidhamma in Daily Life là quyển thứ nhì trong loại sách phổ-biến giáo-lý của Ngài Janakabhivamsa.
Quyển thứ nhất: Ratana , 1932, nói về Ba Ngôi Tam-Bảo Phật, Pháp và Tăng. Quyển thứ ba: Anagat Thathanaye (Tƣơng-lai của Giáo- lý), xuất bản vào năm 1948 khi Miến- Điện vừa thâu-hồi nền độc-lập. (3) - Lời tán-dương của U Ko Lay về quyển Abhidhamma in Daily Life: “Trong Tam Tạng Kinh Điển, A-tỳ-đạt-ma là phần khó hiểu nhất vì các ý-niệm tuyệt-đối, các chơn-lý tối- thượng, gồm những đề-tài cần sự nghiên-cứu thâm-sâu và cẩn-thận dưới sự hướng-dẫn của các bực đạo-sư lỗi-lạc… 12 Vi Diệu Pháp Nhật Dụng A-tỳ-đạt-ma là cốt-tủy giáo-lý của Đức Phật, học-giả chẳng những phải thông-hiểu cho tường-tận mà còn phải biết đem ra ứng-dụng vào đời sống hằng ngày. Vì lòng từ- bi đối với những người thế-tục, Hòa- thượng (Tác-giả) đã trước-tác quyển sách này với lời-lẽ dễ hiểu, dễ áp-dụng vào cuộc sống thực-tế thường-nhựt… Tôi đã cố-gắng dịch theo thật sát cả phần nội-dung thâm-sâu lẫn lối hành-văn trong-sáng…” ******* 13 Hòa Thượng U Janaka LỜI TỰA CỦA TÁC-GIẢ Paja sabba sussayantu vutthahantu sumangalam dusentu duggatim gamim purentu sabbaparamim * Nguyện-cầu nơi mọi cảnh-giới chúng-sanh được ngủ yên với mộng đẹp ! * Nguyện-cầu khi sáng sớm chỗi dậy, họ được ban phước lành sáng-rực ! * Nguyện-cầu họ tránh xa được các hành-vi bất-thiện đưa đến các cõi ác ! * Nguyện-cầu họ đủ khả-năng để thực-hành viên-mãn ba mươi hạnh Ba-la- mật và lần lượt chứng-đạt được sự trưởng-thành tâm-linh từng cấp một ! Nhìn đến hoàn-cảnh ngày nay, chúng ta thấy rằng phạm-hạnh (brahmacariya) nhƣ lòng từ (metta), bi (karuna), hỉ (mudita) đã thôi nẩy-nở và đang khô-cạn dần trong tâm-tƣ con ngƣời.
Ngọn lửa (của hỏa-đại) xuất-phát từ những cá-nhơn thiếu phạm-hạnh đã đốt cháy lây cả những ngƣời đức-hạnh giờ đây khó mà sống theo con đƣờng thánh-thiện. Yếu-tố hỏa-đại là gì? – Nguyên-tố hỏa-đại là sự đâm- chồi nẩy-nở của sự tham-lam (lobha), sự sân-hận (dosa), sự kiêu- mạn (mana), sự ganh-tị(issa) và sự tật-đố (macchiriya), chẳng còn chút thiện-c ảm hay từ-tâm đối với kẻ khác. Yếu-tố lửa đó đã đốt cháy khô hết những căn lành chẳng những ngay trong đời này mà còn đến những đời sau 14 Vi Diệu Pháp Nhật Dụng trong cảnh Luân-hồi (Samsara). Bởi thế cho nên, mọi ngƣời phải cố gắng dập tắt ngọn lửa đó và tìm đến các yếu- tố mát-mẻ của những tấm lòng từ, bi, hỉ, xả là bốn cảnh sống cao-thƣợng nhất.
Sự liên- tục khởi-phát của các tâm-thức (citta) và tâm-sở (cetasika) cùng các tâm-pháp (nama) và sắc-pháp (rupa) nối- tiếp nhau chẳng ngừng đƣợc gọi là Luân-hồi (Samsara) theo nghĩa tối-thƣợng của chữ này (sam = liên-tục; sara = khởi-hiện). Con người, chư Thiên và Phạm-Thiên là gì? – Tâm-thức (citta) và tâm-sở (cetasika) đƣợc gọi chung là danh (nama), là yếu-tố tâm-linh. Sự hiện-khởi liên-tục của danh (nama) và sắc (rupa), yếu-tố vật-thể, hòa-hiệp nhau lại, đƣợc gọi là con ngƣời, chƣ Thiên (Deva) và Phạm-Thiên (Brahma), hay nói theo cách thông-thƣờng là ngƣời, sanh-vật, tôi, nó, chị ấy, đàn-ông, đàn-bà, v. Theo nghĩa tối-hậu, chẳng hề có con ngƣời, chƣ Thiên, Phạm- Thiên nào ngoài danh (nama) và sắc (rupa) ra cả.
Tại sao danh (nama) và sắc (rupa) lại hiện-hữu? – Danh (nama) và sắc (rupa) chẳng phải hiện-hữu mà chẳng có nguyên- nhơn. Chúng khởi lên do các cảm-giác về sự- vật bên ngoài đã kinh-nghiệm trong hiện tại và do các hành-động nghiệp-lực (kamma) đƣợc tồn-trữ bên trong thân-tâm. Vậy nên ghi nhớ rằng hai nguyên-nhơn căn-bản của danh (nama) và sắc (rupa) là: các cảm-giác bên ngoài và các hành-động đã qua. 15 Hòa Thượng U Janaka Các nguyên-nhơn quan-trọng.
– Trong hai loại nguyên- nhơn vừa kể, các cảm- giác bên ngoài chẳng mấy quan-trọng, vì chúng chỉ đƣợc dùng nhƣ những hình-ảnh đƣa đến các sự thay đổi khác nhau của tâm-trạng bên trong. Điểm quan-trọng là phải làm sao để nhiếp-phục đƣợc phần tâm-linh bên trong khi đang có các cảm-giác bên ngoài hoặc tốt, hoặc xấu.