Lớp Phật Pháp Buddhadhamma Giáo Trình Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya Bài học ngày 2. Ðại Kinh Sư Tử Hống (Mahāsīhanāda Sutta) Sư tử hống (sīhanāda) là lời tuyên bố không khiếp sợ của bậc Sư Vương. Trong bài kinh nầy ghi lại về lời Đức Phật nói về sự ưu việt vô thượng của Ngài, và có thể nói chung chư vị Chánh đẳng chánh giác, đối với cả ba phương diện tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Gọi là Đại Kinh Sư Tử Hống vì là bài kinh dài (đại kinh) so với kinh ngắn hơn (tiểu kinh) trước đây.
Tôn giả Sāriputta khi đi khất thực nghe lời chỉ trích của Sunakkhatta: "Sa môn Gotama không có tri kiến thù thắng, thuyết pháp do mình tạo ra sau khi suy luận, trắc nghiệm. Pháp ấy nhắm đến một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành đến chỗ đoạn tận khổ đau. Tôn giả về thuật lại với Đức Phật. Đức Thế Tôn dạy rằng mặc dù đó là lời chỉ trích nhưng vô tình là tán thán Phật, mặc dù vậy một người thiểu trí như Sunakkhatta không thể nào hiểu được sở chứng và cảnh giới cao rộng của bậc Toàn giác.
Rồi Đức Phật đi vào chi tiết những sở đắc, sở chứng, năng lực hiển hoá và cảnh giới cao rộng của chư Phật. Những tuyên bố nầy khiến tỳ kheo Nāgasamāla đang đứng quạt hầu phía sau chấn động tâm tư. Có lẽ vì thế gọi là Đại kinh Sư Tử Hống. Lời chỉ trích đối với Bậc Đại Giác Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), ở phía ngoài thành, trong một khu rừng phía Tây. Lúc bấy giờ, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong Hội chúng ở Vesālī: "Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau". Lúc ấy Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, vào thành Vesālī để khất thực. Tôn giả Sāriputta nghe Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi nói như sau trong hội chúng ở Vesālī: "Sa- môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm và thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau".
Rồi Tôn giả Sāriputta khất thực xong, sau khi ăn và đi khất thực trở về đến chỗ ở Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn: -- Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong hội chúng Vesālī: ""Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân. diệt tận khổ đau". -- Này Sāriputta, Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên lời ấy.
Này Sāriputta, Ông ta nghĩ: "Ta sẽ nói xấu". Thế mà kẻ ngu Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai. Này Sāriputta, ai nói như sau là tán thán Như Lai: "Pháp ấy được thuyết giảng cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau". Sunakkhatta một người thuộc dòng Licchavi.
Xuất gia theo Đức Phật có lúc trở thành người hầu cận Phật. Do nghiệp quá khứ vị nầy chỉ có thể chứng thiên nhãn mà không chứng chứng được thiên nhĩ. Do quá chú trọng về thần lực mà vị nầy không trưởng thành trong giáo pháp. Về sau nầy khi Sunakkhatta rời bỏ giáo pháp theo ngoại giáo.
Đức Phật đã có lời tiên tri về cảnh giới tái sanh của những đạo sư ngoại giáo mà Sunakkhatta quy hướng. Tất cả đều trở thành sự thật. Tuy vậy do chấp thủ sai lạc, Sunakkhatta đã không rời bỏ được cái nhìn sai lạc về giá trị chân thực của đời sống phạm hạnh. Sunakkhatta khi nói đến giá trị của sự tu tập thì chú trọng đến thần lực phép mầu.
Vị nầy cho rằng, theo sự hiểu biết của mình, thì Đức Phật chỉ dạy về pháp có mục đích hướng thượng có hiệu năng đoạn tận khổ đau nhưng không dẫn đến thành tựu năng lực siêu nhiên. Lời bình phẩm đó, mặc dù có tánh cách chỉ trích, nhưng có phần đúng là Đức Phật giảng dạy giáo pháp chỉ với mục đích hướng dẫn chúng sanh giác ngộ giải thoát như câu chuyện những chiếc lá simsapa. Sự trống rỗng của một người thất bại Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: "Ðây là Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn, vị đã chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua thành, qua núi, như đi ngang hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền, ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên".
Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp này về Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa và gần". Này Sāriputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn, sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài Người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau: "Tâm có tham biết là tâm có tham. Hay tâm không tham biết là tâm không tham. tâm chuyên chú.
đại hành tâm. không phải đại hành tâm. tâm chưa vô thượng. tâm vô thượng.
Tâm Thiền định. Tâm không Thiền định. tâm giải thoát. tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát".
Vị ấy biết như vậy. Điều sai lầm lớn của lời chỉ trích nầy Sunakkhatta, với trình độ hữu hạn, không thể hiểu hết về tuệ giác, năng lực và cảnh giới của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Lời khen, tiếng chê không nói lên được giá trị thật sự. “Xưa và nay người không bị chê bai vốn không có”.
Bất cứ giá trị nào của cuộc sống cũng có nhiều bình phẩm khen chê hai trái chiều. Hơn thế nữa, đối với thị phi, Đức Phật và các bậc thánh luôn an nhiên. Nếu cần phải nói điều gì thì các Ngài nêu rõ ý nghĩa. Mặc dù trong hàng đệ tử cư sĩ của Đức Phật có rất nhiều vua chúa, những người có thế lực và ngay cả Đức Phật cùng các đệ tử có nhiều thần lực nhưng không bao giờ có chuyện áp đảo những người chỉ trích bằng sức mạnh.
Nếu lẽ phải không chuyển hoá được định kiến sai lạc thì bậc thánh trí chọn sự im lặng thuận với tự nhiên. Mười lực của Như Lai Đức Phật được gọi là Đấng Thập Lực vì Ngài có 10 năng lực mà không ai trên thế gian nầy ngoài chư vị Toàn giác có thể có được. Chỉ có một bậc đầy đủ mười lực nầy mới có thể gọi là “tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”: Này Sāriputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực, chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là mười? (1) Ở đây, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ (Tri thị xứ phi xứ lực).
Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như Lai lực này Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống lên tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, và chuyển Phạm luân. (2) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại (Tri tam thế nghiệp báo lực.) Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri.
và chuyển Phạm luân. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri. và chuyển Phạm luân. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri.
và chuyển Phạm luân. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri. chuyển Phạm luân. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri.
và chuyển Phạm luân. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri. và chuyển Phạm luân. (8) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp.
Ngài nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây".
Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sāriputta, Như Lai như thật tuệ tri. và chuyển Phạm luân. (9) Lại nữa, này Sāriputta, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh.
Như Lai tuệ tri rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời và về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến.
Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh.