Chương 1 MẠNG XÃ HỘI VÀ ĐỊNH CHẾ VĂN HỌC 1. Sơ lược về định chế văn học 1. Tiếp cận định chế trong lý thuyết xã hội học văn học Lý thuyết định chế là một nhánh trong hệ hình chung của xã hội học văn học. Bên cạnh xã hội học về trường với mục đích tìm hiểu một nền văn học cụ thể với các yếu tố đặc trưng, chúng ta không thể không nhắc đến một cách tiếp cận khác, tiếp cận định chế văn học.
Nhìn từ góc độ xã hội học, định chế có nhiều định nghĩa khác nhau. Theo từ điển Việt – Việt: “Định chế là toàn bộ quy định có tính chất pháp lí đối với một vấn đề nhất định”. Theo Đào Duy Anh trong “Hán Việt từ điển giản yếu” định nghĩa: Định chế là “chế độ đã nhất định từ trước”, tức là một hệ thống hay một chế độ đã được thiết lập, đã được định sẵn. Émile Durkheim coi định chế là “tất cả các niềm tin và phương cách ứng xử do tập thể thiết lập”, và do đó, xã hội học chính là môn “khoa học về các định chế, về sự hình thành và sự vận hành của chúng” (É.
Cũng theo một cách nhìn mới, Cao Huy Thuần cho rằng định chế là “một quá trình biện chứng” bao hàm cả cái “đã được định chế” (institué) lẫn cái “đang định chế (instituant): “Định chế không phải là một tổng thể đã hoàn thành, có cấu trúc mạch lạc, bền vững, mà là một cái gì đang hoàn thành, luôn luôn đang hoàn thành. Đó không phải là một “sự vật”, mà là một “thực tiễn” (Cao Huy Thuần, Định chế: cái “đã” và cái “đang” (Tạp chí thời đại, số 5, 2001). Có thể hiểu định chế được định hình theo thời gian, là tổng hòa các mối quan hệ xã hội cũng như những chuẩn mực ứng xử mà xã hội đã thừa nhận. Trong công trình của mình Berger và Luckmann, “Sự định chế hóa diễn ra mỗi khi có một sự điển hình hóa” hỗ tương đối với những hành động đã - được- tập - quán - hóa của một số loại điển hình tác nhân nào đó” (Trần Hữu Quang, 2017).
Điều quan trọng ở đây là sự điển hình hóa không chỉ diễn ra đối với các hành động, mà kể cả đối với các tác nhân. Mỗi định chế đều có sở tính (historicity) của nó. Vì thế, Berger và Luckman nhấn mạnh rằng “sẽ không thể 12 hiểu được một định chế một cách xác đáng nếu không hiểu quá trình lịch sử mà trong đó nó được sản sinh ra”. Mặt khác, định chế luôn bao hàm sự kiểm soát.
Nó “kiểm soát cách xử sự của con người bằng cách thiết lập các khuôn mẫu xử sự định sẵn, các khuôn mẫu này lèo lái cách xử sự đi theo một hướng nào đó nhất định chứ không đi theo những hướng khác nhau”. Do các thế hệ sau thường gặp khó khăn trong chuyện tuân thủ, nên trật tự định chế thường “phải thiết lập các biện pháp chế tài”. “Trẻ em phải được “dạy cách cư xử”, và một khi đã được dạy thì chúng phải “tuân theo khuôn phép”. Người lớn cũng buộc phải như vậy, lẽ dĩ nhiên”.
Từ đó, các tác giả nhấn mạnh đến các vai trò và các cấp độ của chúng trong việc thực hiện định chế: “Trước hết, việc đảm nhận vai trò thể hiện chính nó. Thí dụ, tham gia vào việc xét xử chính là thể hiện vai trò quan tòa. Cá nhân vị quan tòa không hành động “theo ý mình”, mà với tư cách của một vị quan tòa. Kế đến, vai trò thể hiện cả một mạng lưới bao gồm những cách xử sự nhất định trong lòng định chế.
Vai trò của vị quan tòa nằm trong mối liên hệ với các vai trò khác, và toàn bộ các vai trò ấy cấu tạo nên định chế luật pháp. Vị quan tòa hành động như người đại diện cho định chế này”. Định chế được Berger và Luckmann ví như một “kịch bản chưa được viết ra của một vở kịch” trong đó các hành động và xử sự của các vai trò đều “đã được lập trình sẵn”…Chính các vai trò làm cho các định chế có thể tồn tại và luôn luôn tồn tại như một sự hiện diện có thực trong kinh nghiệm của các cá nhân đang sống” (Trần Hữu Quang, 2017). Trong lĩnh vực văn học người ta cũng nói đến định chế, hoặc cũng có những cách nói về thiết chế văn học và thiết chế xã hội của văn học.
Bởi vì xét ở khía cạnh cơ cấu và tổ chức, đời sống văn học được vận hành theo các quy luật riêng của nó, trong mối quan hệ với những cơ chế tổ chức khác trong xã hội. Nghĩa là văn học cũng là một định chế, với các tác nhân đóng những vai trò ở những cấp độ khác nhau. Nhìn từ góc độ văn học, theo Phạm Văn Quang khái niệm định chế đã xuất hiện từ lâu vào thời cổ đại nhưng mãi đến những năm 1970 – 1980, khái niệm định chế văn học mới thực sự khẳng định vị thế và giá trị của mình trong 13 nghiên cứu văn học (Phạm Văn Quang, 2019). Công trình đầu tiên nhắc đến khái niệm định chế là công trình của Germaine de Stael với tên gọi “Về văn chương được nghiên cứu trong mối tương quan với các định chế xã hội”.
Tác giả đưa ra một nền tảng về cách tiếp cận định chế trong văn học nhưng vẫn chưa làm nổi bật đời sống văn chương như một bộ máy có tính thiết định. Tiếp đến, khái niệm định chế được tái hiện trong công trình của nhà phê bình người Mỹ Harry Levin với tác phẩm Literature as an Institution (Văn học như một định chế) (1945 – 1946) coi văn học như là đối tượng xã hội giống như pháp luật và tôn giáo. Tiếp nối công trình ra đời những năm 1960 của Georges Lapassade và René Lourau về “phân tích định chế”, Jacques Dubois và Alain Viala có những đóng góp hơn cả. Jacques Dubois được đánh giá cao với công trình Định chế văn học (Phạm Văn Quang, 2019) khi tập trung vào các khía cạnh tổ chức và chức năng của định chế văn học.
Ông định nghĩa định chế văn học là một định chế phức tạp khó tổ chức, thiếu những quy định và quy luật nhất định. “Trước tiên định chế được hiểu như một cấu trúc riêng của một phạm vi hoạt động, giới hạn và kiểm soát những thực hành trong nội tại của nó. Kế tiếp, định chế được hiểu như là một hệ thống có vai trò tác nhân xã hội hóa đối với các cá nhân và hệ thống đóng vai trò sản sinh đối với những tương quan xã hội thông qua sự tuân thủ các hệ thống chuẩn mực và hệ giá trị. Cuối cùng, định chế như là một bộ máy ý hệ, một nơi phát triển của những nguyên lý thống trị và phụ thuộc”.
Trong văn chương, Jacques Dubois đã định nghĩa khái niệm định chế văn chương (institution littéraire) là “tập hợp các chuẩn mực vốn được áp dụng vào một lãnh vực hoạt động cụ thể và xác định một tính chính đáng thông qua một bản hiến chương hay một bản điều lệ” (Trần Hữu Quang, 2016). Đối với trường hợp Dominique Mainguenneau, Phạm Văn Quang cho rằng ông có tham vọng tái định hướng những quan điểm của Bourdieu và Foucault bằng cách diễn giải định chế diễn ngôn. Mainguenneau đi đến thiết lập khái niệm định chế diễn ngôn, có khả năng gắn kết các định chế khác nhau: “Nếu ta sử dụng khái niệm định chế văn học trong ý nghĩa trực tiếp của nó, thì nó dùng để chỉ đời sống văn học (các nghệ sĩ, nhà xuất bản, giải 14 thưởng…). Ta có thể mở rộng lãnh vực hợp lệ của nó, giống như các nhà xã hội học đã thực hiện, bằng cách chú trọng đến tổng thể các khung cảnh xã hội của hoạt động văn chương, gồm cả những biểu hiện mang tính tập thể mà ta tạo ra từ các nhà văn, cũng như khía cạnh pháp lý (ví dụ về quyền tác giả), các cơ quan thừa nhận và điều tiết sản phẩm và những thực hành tác phẩm (những cuộc thi, giải thưởng), những định lệ thường xuyên (quá trình chuyển bản thảo đến nhà xuất bản…), những diện mạo hay tâm tính, những sự nghiệp dự báo,…Sự mở rộng phạm vi quan sát này đã cách tân một cách sâu sắc quan niệm mà ta có thể tạo ra từ diễn ngôn văn học” (Phạm Văn Quang, 2019).
Bằng cách khảo sát những dấu ấn xã hội trong văn bản, mục tiêu của việc nghiên cứu xã hội học văn chương là khám phá ra chiều kích ý thức hệ của các tác phẩm và những quan niệm về thế giới xã hội mà các tác phẩm này chuyển tải. Trần Hữu Quang chỉ ra “định chế văn chương” của Dubois bao gồm hai lĩnh vực sản xuất (hẹp và rộng), các chức năng xã hội của văn chương, các tổ chức sản xuất và các tổ chức chính đáng hóa, vị thế xã hội của nhà văn, các điều kiện của việc đọc các tác phẩm văn chương, vị thế của văn bản cũng như của văn chương. Riêng đối với các tổ chức sản xuất và các tổ chức chính đáng hóa, có thể chia thành hai loại: loại thứ nhất là những cơ quan “ngoài văn học” như Nhà trường, gia đình, các cơ quan kiểm duyệt, các tổ chức thương mại; loại thứ hai là những cơ quan “trong văn học” thực hiện các nhiệm vụ khác nhau theo chức năng của mình trong từng giai đoạn nhất định. Trong công trình tổng lược lý thuyết định chế văn học, Phạm Văn Quang nêu lên trường hợp nhà lý thuyết Lucie Robert, người có quan điểm rằng: “Định chế văn học có thể là tổng thể các chuẩn mực, các quy tắc và tập quán tác động đến hành động sáng tác và đọc (ví dụ những thể loại); định chế của văn học là tiến trình lịch sử mà qua đó văn học trở thành một hình thức xã hội được thừa nhận và hợp pháp” (Phạm Văn Quang, 2019).
Alain Viala cũng đề cập đến lịch sử các định chế văn học, cho rằng những thực hành văn học luôn diễn ra trong một phạm vi định chế. Ông định nghĩa định chế là “những cơ quan có vai trò nâng tầm những thực hành ở mức độ tầm 15 thường lên chiều kích các giá trị nhờ vào một hiệu ứng trường cửu hóa… và do đó các giá trị được thiết lập” (Phạm Văn Quang, 2019).