Chương 1 PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA VĂN XUÔI SINH THÁI NGUYỄN QUANG THIỀU 1. Một số vấn đề về lý thuyết phê bình sinh thái học 1. Khái lược về phê bình sinh thái Phê bình sinh thái (ecocriticism) còn được gọi với những cái tên khác như: “phê bình văn hóa xanh” (green culture studiees), “thi pháp sinh thái” (ecopoetics hay “phê bình văn học môi trường” (environmental literary criticism). Tên gọi: “Phê bình sinh thái” lần đầu tiên được Wiliam Rueckert sử dụng trong khảo luận: Văn học và sinh thái học: một thử nghiệm mới trong phê bình sinh thái vào năm 1978.
Thuật ngữ này có dụng ý “kết hợp văn học và sinh thái học”. Học giả này cho rằng cần xây dựng một hệ thống thi pháp học sinh thái để đối chiếu và đánh giá các tác phẩm văn học viết về mối quan hệ của con người và môi trường sống. Ý kiến đó đã đặt nền móng đầu tiên cho khuynh hướng phê bình văn học sinh thái. Tuy nhiên, mãi đến những năm 1990, phê bình sinh thái mới phát triển khởi sắc.
Đã có nhiều hội thảo được tổ chức bàn về vấn đề này với sự đóng góp ý kiến của các học giả từ nhiều quốc gia. Năm 1994, Kroeber cho ra mắt chuyên luận Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh thần […] đề xướng các khái niệm: “phê bình văn học sinh thái”, “phê bình mang khuynh hướng sinh thái”. Người có công gây dựng và phát triển phong trào phê bình sinh thái phải kể ra là Cheryll Glotfelty. Bà đã cùng với Harotd Fromm biên tập cuốn sách Tuyển tập phê bình sinh thái: Các cột mốc quan trọng trong sinh thái học văn học xuất bản tại Mỹ năm 1996.
Đây được xem như là tài liệu nhập môn về phê bình sinh thái. Trong cuốn sách, Cheryll Glotfelty đã đưa ra một định nghĩa giản dị và rõ ràng về phê bình sinh thái: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 16 “Nói đơn giản, phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” [Pastoral, Routledge, the Critical Idiom series - Gifford]. Nội dung của cuốn sách được biên soạn công phu, giới thiệu những bài báo và chuyên luận liên quan về vấn đề phê bình sinh thái. Sau khi xuất hiện ở Mỹ, phê bình sinh thái cũng hiện diện tại Anh.
Học giả giữ vai trò tiên phong trong việc khai phá trào lưu này là Jonathan Bate - tác giả của cuốn Sinh thái học lãng mạn: truyền thống (văn học) môi trường (1991). Sau đó, có khá nhiều công trình nghiên cứu về phê bình sinh thái. Trong đó, đáng chú ý có: tuyển tập Phê bình sinh thái và văn học do hai nhà phê bình người Anh R. Sammells chủ biên được xuất bản tại Luân Đôn vào năm 1998.
Đây là bộ sách tuyển tập phê bình sinh thái đầu tiên tại Anh, gồm 3 phần gồm 15 chương đề cập các nội dung: Lý luận phê bình sinh thái, Lịch sử phê bình sinh thái và Văn học sinh thái đương đại. Sang thế kỉ XXI, càng lúc càng có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về phê bình sinh thái được công bố. Tuyển tập nghiên cứu xanh - từ chủ nghĩa lãng mạn đến phê bình sinh thái (2000) do Laurence Coupe biên tập chỉ ra sự khác biệt trong quan điểm giữa phê bình sinh thái Mỹ và Anh. Chuyên luận Phê bình sinh thái (thuật ngữ phê bình mới) của Grey Garrard bàn về diễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ 8 phương diện.
Từ đây, tác giả dẫn dắt độc giả tìm hiểu sâu hơn, bỏ qua những ngộ nhận về lý thuyết để có cái nhìn trọn vẹn hơn về phê bình sinh thái hôm nay. Cuốn Lý luận khởi điểm: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa (2002) do Peter Barry soạn được xuất bản lần thứ 2 ở Nhà xuất bản đại học Manchester, cuốn giáo trình này có thêm một chương mới là “Phê bình sinh thái”, giới thiệu một cách toàn diện sự ra đời, thuật ngữ, hàm nghĩa, thành tựu chủ yếu, nhiệm vụ của phê bình sinh thái, và thêm một bài liệt kê thực tiễn phê bình sinh thái. Cùng năm, cuốn Dẫn luận phê bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 17 sinh thái thế kỉ XXI do Julian Wolfreys chủ biên do nhà xuất bản Edinburgh xuất bản, cuốn sách cũng dành một chương giới thiệu về phê bình sinh thái. Như vậy, trào lưu nghiên cứu phê bình sinh thái từ những nghiên cứu riêng lẻ đã phát triển rộng khắp trên toàn thế giới.
Phong trào này không chỉ được khởi xướng mà còn khá phát triển ở một số trường đại học và được đưa vào chương trình giảng dạy một số nội dung nhất định. Từ đây, phê bình sinh thái trở thành một phong trào nghiên cứu hàn lâm với nhiều nghiên cứu được các học giả lần lượt công bố. Hệ thống lý luận về phê bình sinh thái cũng ngày càng được hoàn thiện: chức năng, nhiệm vụ, các hướng nghiên cứu chính được chỉ rõ. Về chức năng và nhiệm vụ: phê bình sinh thái “có thể không đưa ra được những giải pháp trực tiếp cho những vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay nhưng bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường, nó có thể tác động đến tâm thức con người, điều chỉnh nhận thức, khắc phục những ngộ nhận về môi trường, để từ đó có những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sự phát triển bền vững.
Đồng thời, xa hơn và quan trọng hơn cả, phê bình sinh thái hình thành một chủ nghĩa nhân văn mới. Ở đó, con người biết nghe tiếng nói của thiên nhiên để đối thoại với nó” [22]. Qua đây cho thấy: phê bình sinh thái là một lí thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và các ngành khoa học khác, giữa phân tích văn chương và rút ra những cảnh báo về môi trường. Đồng thời, nó cũng dẫn nhập những quan điểm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình.
Bước sang thế kỉ XXI - thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người phải đổi mặt với nhiều nguy cơ sinh thái và khủng hoảng môi trường. Đó chính là động lực để phê bình sinh thái ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng với vai trò cảnh báo và cảnh tỉnh con người trước sự khai thác quá mức làm kiệt quệ Trái đất. Phê bình sinh thái góp phần tác động vào nhận thức khi đặt ra những vấn đề trực diện của khủng hoảng môi sinh. Điều đó thể hiện trước hết ở sự thay đổi về đối tượng nghiên cứu.
Nếu các phong trào nghiên cứu văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 18 học từ trước đến nay đều lấy con người làm trung tâm thì phê bình sinh thái lấy quan niệm đặt trái đất lên trước hết. Cái nhìn sinh thái từ đó cũng mở rộng: không chỉ là phạm vi xã hội mà toàn bộ sinh quyển. Trải qua các chặng phát triển, phê bình sinh thái có các hướng nghiên cứu sau. Thời kì đầu, phê bình sinh thái dựa vào lý thuyết sinh thái học bề sâu (deep ecology) thường đi theo cách tiếp cận sinh học trung tâm luận (biocentric) xem xét tự nhiên được mô tả như thế nào trong văn học.
Đồng thời, phê bình sinh thái xem xét lại các thể loại viết về tự nhiên như văn học đồng quê, văn học lãng mạn… Sang thế kỉ XXI, phê bình sinh thái theo quan điểm nhân chủng học: “tái kết nối tính xã hội và tính sinh thái” chuyển dần sang phê bình sinh thái - xã hội (eco-social). Nó nghiên cứu về thành phố, công nghiệp hóa và môi trường cùng những vấn đề liên đới như sắc tộc, bản địa, di sản văn hóa và môi trường, nhiễm độc môi trường… Trải qua thời gian, mỗi một khuynh hướng nghiên cứu đã đạt được những kết quả nhất định. Đó là: đánh giá lại vai trò của các thể loại văn chương phản ánh về thực trạng bị nhiễm độc của môi trường; chỉ ra những thông điệp “ngầm” về môi trường sinh thái trong các tác phẩm… Riêng hướng nghiên cứu sau đã khắc phục được một vài thiếu hụt của hướng trước đó. Nó: “mang tính chất toàn cầu bởi nó phản ánh được vấn đề bức thiết của cuộc sống con người không chỉ một quốc gia mà rộng khắp thế giới, kêu gọi các nước trên thế giới chung tay tìm ra giải pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta”[Nguồn: nguvan.
Sự chuyển dịch và kết quả nghiên cứu cho thấy sự quan tâm và đóng góp tâm huyết của các học giả trên toàn thế giới. Đúng như Cheryll Glotfelty đã dự đoán từ năm 1996, phê bình sinh thái đã trở thành một khuynh hướng nghiên cứu “liên ngành, đa văn hóa và mang tính quốc tế”. Từ phương Tây, phê bình sinh thái đã lan tỏa sang phương Đông. Ở đây, tư tưởng triết học sinh thái môi trường hiện đại kết nối với tư tưởng văn hóa phương Đông để đề xuất một cách ứng xử mới với tự nhiên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam hiện đại Sau khi du nhập và được giới thiệu ở Châu Á, lý thuyết phê bình sinh thái bắt đầu được chuyển dịch hoặc giới thiệu sang tiếng Việt qua các hội thảo văn học có sự tham gia của các học giả nước ngoài và các tài liệu được biên dịch. Tháng 3 năm 2011, viện Văn học tổ chức một hội thảo thuyết trình giới thiệu về vấn đề phê bình sinh thái. Trong buổi thuyết trình, có sự đóng góp quan trọng của Karen Thronber với bài giảng Ecocriticism.
Nội dung bài giảng giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và 6 điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm. Học giả nhấn mạnh: nếu như thời kì đầu phê bình sinh thái chủ yếu tập trung vào “những biểu đạt văn chương về thế giới tự nhiên” thì thời kì thứ hai quan tâm đến vấn đề “công bằng môi trường”, kết nối “những liên hệ cấu trúc giữa vấn đề xã hội và vấn đề môi trường” Bản dịch của Trần Ngọc Hiếu Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học của Karen Thornber trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình các nền văn học, văn hóa và môi trường đã cung cấp một vài gợi ý về phong trào này đối với tình hình cụ thể ở Đông Á. Theo dịch giả, Karen Thornber đã sáng tạo ra khái niệm ecoambiguity (mơ hồ sinh thái) - phản ánh đặc trưng phổ biến của diễn ngôn về môi trường, thiên nhiên trong các nền văn hóa Đông Á.