Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 9220120) của nghiên cứu sinh Phan Thị Trà, do PGS. Trần Lê Hoa Tranh hướng dẫn khoa học, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2023) với đề tài: “Nghiên cứu văn học Tầm căn Trung Quốc từ góc nhìn sinh thái”.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dòng văn học Tầm căn (Xungen wenxue) xuất hiện tại Trung Quốc vào những năm 1984–1985, kế thừa tinh thần phản tư từ văn học Vết thương và văn học Cải cách, đánh dấu bước chuyển hướng sang đa dạng hóa văn học đương đại. Sau sự kiện nhà văn Mạc Ngôn nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 2012, các nghiên cứu về Tầm căn tiếp tục được quan tâm sâu rộng. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dòng văn học này từ góc độ ý thức hệ, văn hóa học, tự sự học hoặc lịch sử văn học.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, sự can thiệp của tư duy lý tính và phương thức phát triển kinh tế nóng đã gây ra những rạn nứt trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Việc áp dụng lý thuyết phê bình sinh thái để giải mã văn học Tầm căn mở ra một góc nhìn mới: văn học Tầm căn không chỉ tìm về cội nguồn văn hóa truyền thống mà còn hướng đến “gốc tự nhiên” và “gốc sinh mệnh”. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu mang tính hệ thống về mối quan hệ giữa con người, môi trường sống và tự nhiên trong dòng văn học Tầm căn Trung Quốc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Khảo cứu tổng quát dòng văn học Tầm căn Trung Quốc từ bối cảnh quốc tế và quốc nội đến quá trình hình thành, phát triển; phân tích các tầng nội dung, ý nghĩa của văn học Tầm căn dưới lăng kính sinh thái.
- Khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của các tác giả Tầm căn, đánh giá khách quan những đóng góp, cảnh báo và phương án hòa giải mà các nhà văn đề xuất trong tiến trình hội nhập, phát triển đất nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Khảo sát tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định các bước tiếp cận đề tài.
- Phân tích các đặc điểm chủ yếu của phê bình sinh thái và sự vận dụng lý thuyết này vào văn học nói chung và văn học Tầm căn Trung Quốc nói riêng.
- Phân tích văn học Tầm căn Trung Quốc từ phương diện giải cấu trúc của phê bình sinh thái, chỉ ra sự biến đổi khi con người dùng tư duy lý tính can thiệp vào tự nhiên, từ đó xác lập nhu cầu đối thoại nhằm tái thiết sự hài hòa trong chỉnh thể sinh thái.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Văn học Tầm căn Trung Quốc tại điểm giao cắt với tinh thần sinh thái, trọng tâm là vấn đề sinh mệnh và mối quan hệ giữa không gian nguyên sinh với không gian hiện đại.
- Phạm vi thời gian và lịch sử: Dòng văn học khởi phát từ mốc hội nghị Hàng Châu (tháng 12/1984) và giai đoạn phát triển từ năm 1985 đến thời kỳ đương đại.
- Phạm vi văn bản khảo sát: Luận án tập trung vào các tác phẩm của các tác giả Tầm căn tiêu biểu đã được dịch sang tiếng Việt và một số tác phẩm mở rộng:
- Hàn Thiếu Công: Bố bố bố, Nữ nữ nữ, Từ điển Mã Kiều.
- Mạc Ngôn: Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình, Tửu quốc, Bạch miên hoa, Trâu thiến, Con đường nước mắt, Hoan lạc, Truyện ngắn Mạc Ngôn.
- Giả Bình Ao: Hoài niệm sói, Phế đô, Điệu tần, Niềm vui trong nỗi khổ, Thương Châu sơ lục, Quê cũ, tập truyện ngắn và tản văn.
- Phùng Ký Tài: Gót sen ba tấc, Roi thần, Âm dương bát quái.
- Cao Hành Kiện: Linh sơn, tập truyện ngắn.
- Khương Nhung: Totem sói.
- Lý Nhuệ: Chốn xưa, Ngân thành cố sự, Ngàn dặm không mây, Đất dày.
- A Lai: Bụi trần lắng đọng.
- Vương Mông: Triết học nhân sinh của tôi, Thiên cơ Trung Quốc.
- A Thành: Vua cờ, Tam vương.
- Lý Hàng Dục: Lão ngư cuối cùng, loạt truyện Sông Cát Xuyên.
- Vương An Ức: Tiểu bào trang.
- Trịnh Nghĩa: Lão Tỉnh.
- Ureertu: Lửa trại màu hổ phách, Ông lão và con hươu.
- Uông Tăng Kỳ: Thọ giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu tại Trung Quốc và quốc tế
Tại Trung Quốc và trên thế giới, văn học Tầm căn được tiếp cận dưới nhiều giác độ lý luận và lịch sử văn học:
- Nghiên cứu về tự sự dân tộc và bản sắc văn hóa: Li Hua Ying (2010) với Root-seeking literature khẳng định trách nhiệm kết nối lại quá khứ của nhà văn; Mark Leenhouts (2005, bản dịch tiếng Trung 2020: Nhập thế với trạng thái xuất thế - Hàn Thiếu Công và văn học Tầm căn Trung Quốc) phân tích mối quan hệ giữa bản sắc Trung Quốc và bản sắc thiểu số; Lâm Tú Cầm (2012) với Tiếng nói Tầm căn: Tự sự dân tộc và hiện đại phân tích bối cảnh phát sinh và các cuộc tranh luận văn học sử; Vương Hiểu Hằng (2013) so sánh tiểu thuyết đồng quê Ngũ Tứ và văn học Tầm căn thập niên 1980 trên 6 phương diện; Lý Kha Vỹ (2017) truy tìm nguồn gốc cảm thức cội nguồn trong bối cảnh toàn cầu hóa; Edward C. Henderson (2017) trong A New Literary History of Modern China điểm lại bước ngoặt Tầm căn; Nhiếp Mậu (2018) nghiên cứu sự thừa nhận văn hóa và tầm căn sinh mệnh của các nhà văn dân tộc Dao ở Giang Hoa; Đặng Tâm Cường (2019) nghiên cứu văn luận truyền thống; Dương Hồng (2019) khảo sát tầm căn văn hóa trong văn học dân tộc thiểu số; Điền Văn Binh (2021) tái hiện trào lưu tư tưởng Tầm căn; Hạ Giai Mai (2022) phân tích tài liệu tri thức văn hóa những năm 1980.
- Nghiên cứu văn học Tầm căn từ góc nhìn sinh thái:
- Về vấn nạn săn bắn và suy giảm động vật: Liêu Tăng Hồ (2000) phỏng vấn Giả Bình Ao về Hoài niệm sói và sự tuyệt chủng loài sói Thương Châu; Vương Tây (2015) và Trần Thạch Căn (2017) phân tích các vấn đề sinh thái thảo nguyên, nạn phá rừng và triết lý sinh thái trong Totem sói.
- Về sức sống sinh mệnh và gốc tự nhiên: Tác giả Y Y bàn về sinh mệnh cá thể trong Vua cờ, Cao lương đỏ, Dòng sông phương Bắc; Lỗ Khu Nguyên (2014) khảo luận về sự chuyển dịch từ gốc văn hóa sang gốc tự nhiên; Trương Thủ Hải (2018) trong công trình Gốc tự nhiên trong văn học: Văn học Tầm căn trong tầm nhìn phê bình sinh thái dẫn luận Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp để xác định tự nhiên chính là cội gốc sinh tồn của văn học.
- Về xung đột giữa truyền thống và hiện đại: Trần Lạc (2007) phân tích tiếng nói Tầm căn như phản ứng trước hiện đại hóa; Ma Vĩ Đào (2015) khảo sát sự suy thoái ý thức nông thôn trong tiểu thuyết Giả Bình Ao; Diệp Thư Hiến (2020) với Nguy cơ tính hiện đại và Tầm căn văn hóa chỉ ra căn nguyên các cuộc khủng hoảng sinh thái và dịch bệnh bắt nguồn từ tính hiện đại.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, văn học Tầm căn và các tác giả tiêu biểu được giới thiệu và nghiên cứu qua nhiều công trình:
- Các nghiên cứu khái quát và thi pháp học: Hồ Sĩ Hiệp (2001, 2003) nghiên cứu tác giả tiêu biểu thời kỳ mới; Nguyễn Khắc Phê (2002) chỉ ra các thủ pháp lạ hóa, phóng đại, huyền thoại hóa ở Mạc Ngôn; Phạm Tú Châu (2003) phân tích Giả Bình Ao và tiểu thuyết đương đại; Lê Huy Tiêu (2003, 2011) nghiên cứu nghệ thuật tự sự Mạc Ngôn và tiểu thuyết cải cách mở cửa; Nguyễn Thị Tịnh Thy (2008, 2011, 2013, 2021) phân tích điểm nhìn nghệ thuật, nghệ thuật tự sự “cực hạn” của Mạc Ngôn và định danh nhóm nhà văn “ngũ hồ”; Đinh Thị Nhung (2012) khảo sát đặc điểm văn học Tầm căn qua Phùng Ký Tài; Tạ Thị Thủy (2014) khảo sát văn hóa dân gian Sơn Đông trong truyện Mạc Ngôn; Đỗ Thu Thủy (2015, 2022) nghiên cứu không gian nghệ thuật và yếu tố kỳ ảo ở Giả Bình Ao; Nguyễn Thị Bạch Hải (2022) nghiên cứu tính liên văn bản ở Mạc Ngôn.
- Tiếp cận hướng sinh thái và chuyển biến hiện đại: Nguyễn Thị Ngà khảo cứu cảm thức sinh thái trong Hoài niệm sói; Phạm Thị Thu Trang (2013) nghiên cứu Totem sói; Trần Huỳnh Anh Thơ (2014) phân tích thế giới vật và hiện tượng tha hóa trong Phế đô; Đỗ Thu Thủy (2016) nghiên cứu xung đột nông thôn - thành thị trong Nôn nóng.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình tại Việt Nam chủ yếu khảo sát đơn lẻ từng tác giả hoặc từng tác phẩm riêng biệt. Luận án của Phan Thị Trà đặt toàn bộ dòng văn học Tầm căn trong một hệ thống hoàn chỉnh dưới hệ hình lý thuyết phê bình sinh thái, kết nối từ cội nguồn triết học cổ đại đến thực trạng sinh mệnh và mâu thuẫn phát triển đất nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Phê bình sinh thái (Ecocriticism): Xuất phát từ thuật ngữ sinh thái học do Ernst Haeckel đề xuất năm 1866. Thuật ngữ Ecocriticism được William Rueckert sử dụng lần đầu năm 1978 trong bài viết Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism, sau đó được Karl Kroeber phát triển và Cheryll Glotfelty nâng tầm thành khuynh hướng nghiên cứu học thuật chính thức tại hội thảo WLA năm 1989. Luận án vận dụng quan điểm của Kate Rigby về ba nguồn gốc dẫn đến khủng hoảng sinh thái: sự thất bại trong duy trì đời sống bền vững, sự ngạo mạn tôn vinh vị thế trung tâm của con người, và cấu trúc kinh tế - chính trị - xã hội áp đặt lên tự nhiên.
- Lý thuyết ý thức sinh thái và luân lý học sinh thái: Sử dụng khái niệm luân lý sinh thái học (theo Phạm Thị Ngọc Trầm) nhằm định vị trách nhiệm, nghĩa vụ của con người trong việc thiết lập sự đồng tiến hóa giữa xã hội và tự nhiên.
- Tiếp biến Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo: Xem xét cách các nhà văn Tầm căn tiếp nhận thủ pháp của Gabriel García Márquez (Trăm năm cô đơn) và tư tưởng thẩm mỹ của Yasunari Kawabata để hòa trộn yếu tố huyền ảo, tâm linh và hiện thực sinh thái.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phê bình sinh thái: Đóng vai trò chủ đạo, khai thác tính giải cấu trúc, tính đối thoại và liên văn bản nhằm phân tích sự can thiệp của con người vào tự nhiên và quá trình thức tỉnh sinh thái.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức văn học với văn hóa học, triết học, sinh học, xã hội học và nhân loại học để lý giải nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường.
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa - lịch sử: Đặt các tác phẩm vào bối cảnh các đợt vận động lịch sử của Trung Quốc (từ phong trào Ngũ Tứ, Đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa đến Cải cách mở cửa) để phân tích hành vi ứng xử của con người với tự nhiên.
- Phương pháp thi pháp học: Khảo sát các hình thức thời gian nghệ thuật (hồi ức, đồng hiện, đa thế hệ) và không gian nghệ thuật (không gian nguyên sinh đối lập không gian hiện đại, nông thôn đối lập thành thị).
- Thao tác bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu văn bản văn học và các công trình lý luận.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản tác phẩm văn học Tầm căn nguyên bản và các bản dịch tiếng Việt tiêu biểu.
- Hệ thống văn bản triết học cổ đại Trung Quốc (Đạo Dịch, kinh điển Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo).
- Tư liệu lý luận từ Hội nghị Hàng Châu (tháng 12/1984) và các bài viết tuyên ngôn của Hàn Thiếu Công (Gốc của văn học), A Thành (Văn hóa chính của nhân loại), Lý Hàng Dục (Chỉnh đốn lại gốc của chúng ta), Trịnh Vạn Long (Gốc của tôi).
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Trọng tâm nội dung chính |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận |
Hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu quốc tế, Trung Quốc và Việt Nam; hoàn cảnh ra đời của văn học Tầm căn (bối cảnh quốc tế, các cuộc cách mạng công nghiệp, tác động sau Cách mạng Văn hóa); xác lập khung lý thuyết phê bình sinh thái. |
| Chương 2 |
Cội nguồn và quá trình phát triển của tinh thần sinh thái trong văn học Tầm căn Trung Quốc |
Khảo sát tư tưởng sinh thái trong triết học cổ đại (Đạo Dịch, Nho, Lão, Phật); lịch sử chủ đề sinh thái trong văn học Trung Quốc; tinh thần tìm về văn hóa ngoại biên, văn hóa nhánh (văn hóa Sở, thảo nguyên, sơn cước). |
| Chương 3 |
Vấn đề sinh mệnh trong văn học Tầm căn Trung Quốc |
Phân tích hai cội gốc sinh mệnh con người: gốc huyết thống tự nhiên và gốc vật chất cơ bản (lương thực, ăn uống); chỉ ra các nạn nhân của thời đại gồm thế giới động thực vật và con người bị tha hóa, chấn thương. |
| Chương 4 |
Vấn đề phát triển đất nước trong văn học Tầm căn Trung Quốc |
Đối chiếu sự biến đổi từ không gian nguyên sinh sang không gian hiện đại (đô thị hóa, xâm lấn môi trường); đề xuất con đường đối thoại và hòa giải (giữa người với người, giữa nông thôn và thành thị). |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 tái hiện bối cảnh lịch sử dẫn đến sự hình thành của văn học Tầm căn. Trên bình diện quốc tế, quá trình hiện đại hóa qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp đã lan rộng toàn cầu, dẫn đến xu thế “Tây hóa” và sự thống trị của chủ nghĩa duy lý công cụ (như Adorno, Horkheimer, Lyotard đã chỉ ra). Trên bình diện quốc nội, sau những biến động lịch sử như phong tràu Ngũ Tứ, Đại nhảy vọt, và đặc biệt là cuộc “phá bốn cũ” trong Cách mạng Văn hóa làm rạn nứt các giá trị truyền thống, văn học Tầm căn ra đời như một sự thức tỉnh văn hóa sau sự thức tỉnh chính trị.
Chương này ghi nhận dấu mốc Hội nghị Hàng Châu (12/1984) với tuyên ngôn “Gốc của văn học” của Hàn Thiếu Công: “Văn học có gốc, cái gốc của văn học phải ăn sâu trong mảnh đất văn hóa truyền thống dân tộc, gốc không sâu thì lá khó tốt tươi”. Cùng với đó, các quan điểm của Lý Hàng Dục, A Thành, Trịnh Vạn Long đã định hình nên tiếng nói Tầm căn. Chương 1 cũng trình bày hệ thống lý luận phê bình sinh thái từ Ernst Haeckel (1866), William Rueckert (1978) đến Cheryll Glotfelty (1989), xác lập tính khả thi của hướng tiếp cận sinh thái đối với văn bản văn học.
Chương 2: Cội nguồn và quá trình phát triển của tinh thần sinh thái trong văn học Tầm căn Trung Quốc
Chương 2 đi sâu luận giải các nguồn mạch tư tưởng triết học mà văn học Tầm căn kế thừa:
- Tư tưởng sinh thái trong triết thuyết cổ đại:
- Đạo Dịch: Quan niệm “thiên nhân hợp nhất”, xem con người và vũ trụ là một chỉnh thể sinh thái tương tác hữu cơ.
- Đạo Nho: Tư tưởng “vạn vật nhất thể”, tình thương yêu muôn loài bắt nguồn từ nhân đạo.
- Đạo Lão: Quan điểm “Đạo pháp tự nhiên”, tôn trọng trật tự tự nhiên vô vi, chống lại sự can thiệp duy ý chí của con người.
- Đạo Phật: Tư tưởng “duyên khởi”, “luân hồi” và lòng từ bi đối với mọi chúng sinh.
- Quá trình phát triển chủ đề sinh thái và tinh thần tìm về ngoại biên: Luận án chỉ ra rằng các nhà văn Tầm căn không chỉ dừng lại ở văn hóa trung nguyên mà chủ động tìm về các vùng ngoại biên, các “dòng văn hóa nhánh” giàu tính hoang sơ, nguyên thủy như văn hóa Sở huyền bí (Hàn Thiếu Công), văn hóa thảo nguyên Mông Cổ (Totem sói của Khương Nhung), vùng núi Thương Châu (Hoài niệm sói của Giả Bình Ao), vùng đất Tây Tạng (Bụi trần lắng đọng của A Lai), hay văn hóa các dân tộc thiểu số miền rừng núi (Ureertu).
Chương 3: Vấn đề sinh mệnh trong văn học Tầm căn Trung Quốc
Chương 3 tập trung phân tích hai phương diện cốt lõi của sinh mệnh:
- Cội gốc cơ bản của con người:
- Gốc huyết thống tự nhiên: Khắc họa sức sống nguyên thủy, bản năng sinh học mãnh liệt của con người gắn liền với đất đai, sông nước, thiên nhiên chưa bị thuần hóa (như trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn).
- Gốc vật chất cơ bản: Vấn đề ăn uống, cái đói và nhu cầu lương thực tối thiểu để duy trì sự sống. Luận án phân tích cách các nhà văn đặt vấn đề lương thực trải dài suốt lịch sử Trung Quốc (tiêu biểu như Vua cờ của A Thành với nhân vật Vương Nhất Sinh từ thỏa mãn nhu cầu vật chất tối thiểu đến thăng hoa trong tinh thần).
- Những nạn nhân của thời đại:
- Nạn nhân là động, thực vật: Tình trạng săn bắn tận diệt, hủy hoại hệ sinh thái động vật hoang dã, sự suy thoái của rừng và đồng cỏ (hình tượng bầy sói trong Totem sói của Khương Nhung và Hoài niệm sói của Giả Bình Ao, cảnh báo về sự biến mất của các loài muông thú bên cạnh sự gia tăng của vật nuôi thuần hóa).
- Nạn nhân là con người: Con người bị bứng gốc khỏi môi trường sống truyền thống, rơi vào trạng thái tha hóa tâm lý, chấn thương thể xác và tinh thần do áp lực của đô thị hóa và nền văn minh cơ khí.
Chương 4: Vấn đề phát triển đất nước trong văn học Tầm căn Trung Quốc
Chương 4 mở rộng phân tích các xung đột xã hội trong tiến trình hiện đại hóa:
- Biến đổi không gian sống: Khảo sát sự dịch chuyển từ không gian nguyên sinh (làng quê tĩnh lặng, núi rừng, dòng sông cổ xưa) sang không gian hiện đại (đô thị ồn ã, công trường khai thác, các khối bê tông). Sự xâm thực của các yếu tố hiện đại vào nông thôn làm phá vỡ cấu trúc sinh thái tự nhiên và cộng đồng truyền thống.
- Đối thoại - Con đường tìm kiếm sự hòa giải: Luận án chỉ ra lối thoát mà các nhà văn Tầm căn gợi mở:
- Đối thoại giữa con người với con người: Hóa giải những định kiến, rạn nứt xã hội sau giai đoạn xung đột ý thức hệ.
- Đối thoại giữa nông thôn và thành thị: Tái lập sự cân bằng giữa giá trị văn minh nông nghiệp và giá trị văn minh công nghiệp, không đánh đổi môi trường sinh thái và cái gốc văn hóa để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng hệ thống lý thuyết phê bình sinh thái để giải cấu trúc dòng văn học Tầm căn Trung Quốc, mở rộng đường biên tiếp cận văn học từ góc nhìn môi trường và sinh mệnh.
- Mở rộng phạm trù “Tầm căn”: chỉ ra rằng “căn” (gốc) trong văn học Tầm căn không đơn thuần là gốc rễ văn hóa truyền thống hay ý thức dân tộc, mà còn là “gốc tự nhiên”, “gốc sinh mệnh” và “gốc vật chất” của con người.
- Xác định sự tương đồng và dị biệt trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn Tầm căn khi xử lý mối quan hệ giữa truyền thống phương Đông và kỹ thuật tự sự phương Tây.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp một hệ thống tư liệu khoa học, toàn diện về văn học Tầm căn Trung Quốc và phê bình sinh thái, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học Trung Quốc, Lý luận văn học và Văn hóa học tại các trường đại học.
- Đặt văn học Tầm căn trong tính thời sự của các vấn đề môi trường đương đại, mang lại giá trị cảnh tỉnh thực tiễn đối với các quốc gia đang trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án
- Khẳng định phát triển đất nước bền vững bắt buộc phải tôn trọng quy luật sinh thái, duy trì cái gốc vật chất (an ninh lương thực) và bảo tồn môi trường tự nhiên.
- Đề xuất phương thức “đối thoại đa chiều” (giữa con người với tự nhiên, giữa quá khứ với hiện tại, giữa nông thôn với đô thị) nhằm khắc phục tình trạng phân mảnh và tha hóa trong xã hội hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu vào các tác phẩm của các tác giả Tầm căn đã được dịch và phổ biến tại Việt Nam, kết hợp một số tác phẩm tiếng Trung. Do phạm vi bao quát của khái niệm văn học Tầm căn có độ đàn hồi và co giãn lớn qua các thời kỳ, luận án chưa thể bao quát toàn bộ mọi sáng tác mang hơi hướng Tầm căn từ thập niên 1990 đến nay.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát các sáng tác của các tác giả thuộc các dân tộc thiểu số tại Trung Quốc chưa được dịch sang tiếng Việt.
- Nghiên cứu so sánh đối chiếu khuynh hướng Tầm căn - sinh thái trong văn học Trung Quốc với các hiện tượng văn học tương đồng trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các chuyên ngành Lý luận văn học, Văn học nước ngoài (Văn học Trung Quốc), Văn học so sánh và Văn hóa học; cung cấp khung phân tích mẫu mực về việc ứng dụng phê bình sinh thái vào một dòng văn học cụ thể.
- Đối với giới nghiên cứu văn hóa và xã hội: Chương 2 và Chương 4 là nguồn tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu sự chuyển biến tư tưởng triết học cổ đại sang tư duy sinh thái hiện đại, cũng như các vấn đề xung đột văn hóa nông thôn - đô thị.
- Đối với người làm chính sách phát triển: Cung cấp góc nhìn nhân văn về các hệ lụy sinh thái và xã hội trong quá trình đô thị hóa nhanh, nhấn mạnh sự cần thiết của phát triển bền vững dựa trên việc bảo tồn tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ “văn học Tầm căn” chính thức xuất hiện từ sự kiện nào và bài viết nào giữ vai trò mở đường?
Trả lời: Thuật ngữ “văn học Tầm căn” được định hình rõ nét từ Hội nghị Hàng Châu tổ chức vào tháng 12/1984 với chủ đề “Văn học thời kỳ mới: nhìn lại và dự đoán”. Bài viết giữ vai trò mở đường và được coi là tuyên ngôn của trào lưu là “Gốc của văn học” (Văn học đích căn) của nhà văn Hàn Thiếu Công, xuất bản năm 1985.
2. Luận án mở rộng khái niệm “cái gốc” (căn) trong văn học Tầm căn như thế nào?
Trả lời: Ngoài việc hiểu “gốc” là văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc Trung Hoa như các nghiên cứu trước đây, luận án tiếp cận từ góc nhìn sinh thái để chỉ ra “gốc” còn bao gồm “gốc tự nhiên” (mối quan hệ cộng sinh giữa con người và muôn loài), “gốc huyết thống tự nhiên” (sức sống bản năng nguyên thủy) và “gốc vật chất cơ bản” (nhu cầu lương thực, sinh tồn tối thiểu của con người).
3. Những nguồn mạch triết học cổ đại nào được luận án xác định là tiền đề cho tư tưởng sinh thái của văn học Tầm căn?
Trả lời: Luận án chỉ ra 4 triết thuyết cổ đại cốt lõi: Đạo Dịch (quan niệm chỉnh thể vũ trụ thiên nhân hợp nhất), Đạo Nho (tư tưởng vạn vật nhất thể và lòng nhân ái), Đạo Lão (tư tưởng Đạo pháp tự nhiên, vô vi), và Đạo Phật (quan niệm duyên khởi, luân hồi, từ bi với vạn vật chúng sinh).
4. Vấn đề “nạn nhân của thời đại” trong Chương 3 được luận án phân tích trên những đối tượng nào?
Trả lời: Luận án phân tích hai nhóm nạn nhân chính: thế giới động thực vật (bị săn bắn tận diệt, mất môi trường sống tự nhiên như hình tượng loài sói trong tác phẩm của Khương Nhung và Giả Bình Ao) và con người (bị tha hóa nhân tính, biến dạng tâm lý, chịu đựng các chấn thương thể xác và tinh thần khi bị bứng gốc khỏi không gian sinh thái truyền thống).
5. Luận án đề xuất giải pháp trung tâm nào để hóa giải mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại?
Trả lời: Giải pháp trung tâm được nêu ở Chương 4 là con đường “đối thoại”: đối thoại bình đẳng giữa con người với thế giới tự nhiên, đối thoại giữa con người với con người nhằm xóa bỏ hận thù quá khứ, và đối thoại hòa giải giữa không gian nông thôn với không gian đô thị nhằm bảo tồn nền tảng sinh thái bền vững trong tiến trình hiện đại hóa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu văn học Tầm căn Trung Quốc từ góc nhìn sinh thái” của tác giả Phan Thị Trà đã vận dụng hệ hình phê bình sinh thái để tái hiện và giải mã một cách hệ thống dòng văn học Tầm căn Trung Quốc thập niên 1980 đến đương đại. Bằng việc phân tích đa tầng từ cội nguồn triết học cổ đại, thực trạng sinh mệnh đến các biến đổi không gian do đô thị hóa, công trình đã làm sáng tỏ ý nghĩa thời đại và giá trị cảnh tỉnh sinh thái sâu sắc của các nhà văn Tầm căn. Kết quả nghiên cứu không chỉ mở rộng nội hàm của khái niệm “gốc” trong lý luận văn học mà còn khẳng định yêu cầu tất yếu của sự đối thoại và phát triển bền vững giữa con người và tự nhiên. Công trình đóng góp một tài liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận và văn học Trung Quốc tại Việt Nam.