Chương 1: Cơ sở của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề thuật ngữ TCSS và lịch sử phát triển Khái niệm trầm cảm (depression) ban đầu được gọi là biểu hiện “u uất” xuất hiện lần đầu tiên trong thời kỳ Lưỡng Hà cổ đại thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên.Thời gian này tất cả các bệnh tâm thần đều được xem là do ma quỷ gây ra và việc chữa trị nó phải có sự tham gia của các linh mục. Tuy nhiên một số bác sĩ La Mã và Hy Lạp lại nghĩ rằng trầm cảm là một bệnh do sinh học và tâm lý gây lên. Năm 430 trước Công nguyên Hipocrates một bác sĩ Hy Lạp là người đầu tiên nhận ra bệnh tâm thần sau sinh.
Ông mô tả hưng cảm liên quan đến tiết sữa (lactation) kết hợp nhiễm trùng sau sinh (puerperal sepsis) là bệnh tương đối thường gặp ở người Hy Lạp xưa nhưng bệnh này không được lưu ý. Cho đến năm 1700 đến 1800 khi những báo cáo đầu tiên sau sinh – puerperal insanity bắt đầu xuất hiện trong các y văn Đức và Pháp quan trọng hơn một số phụ nữ được mô tả với bệnh cảnh tái phát nhiều lần trong thời kỳ sau khi sinh dẫn đến nhu cầu cần phải can thiệp chữa trị cho căn bệnh hậu sản này. Năm (1818) bác sĩ Jean Etienne Erquirol lần đầu tiên mô tả chi tiết số liệu 92 bệnh nhân loạn thần sau sinh (puerperal psychosis) trong vòng 6 tuần sau sinh tại Salpetriere trong thời kỳ chiến tranh Napoleon. Tuy nhiên người có công nhiều nhất trong lĩnh vực này phải kể đến Louis Victor Marce’ một bác sĩ người Pháp đã mô tả bệnh tâm thần sau sinh một cách rõ ràng trong cuốn sách nổi tiếng “Điều trị điên ở phụ nữ có thai – Traite’ de la folie des femmes enceintes” xuất bản năm 1856.
Marce đưa ra khái niệm hiện đại cho bệnh tâm thần liên quan thai kỳ sau sinh. Đến năm 1858 ông báo cáo về 310 trường hợp phụ nữ trầm cảm trong thời gian mang thai và sau sinh. Kết quả cho thấy 9% phụ nữ trầm cảm trong thời gian mang thai, 58% trầm cảm giai đoạn sau sinh, 33% trầm cảm trong giai đoạn cho con bú. Ông đã đưa ra nhận định rằng TCSS có nhiều tính năng khác với bệnh tâm thần khác và điều này thực sự phải được phân loại như là một chẩn đoán riêng biệt [70, tr 157-165].
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến năm 1968 Brice Pitt đầu tiên mô tả trầm cảm “không điển hình”( về sau được gọi là buồn người mẹ - maternity blues) ảnh hưởng đến các bà mẹ từ ngay sau khi sinh con. Nghiên cứu rộng rãi dựa trên phỏng vấn có hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán để xác định bệnh cho các bà mẹ, tỷ lệ trầm cảm từ nhẹ đến trung bình, cao trong 6 tháng đầu sau sinh và được tiến hành trên mẫu đại diện cho quần thể dân số và kết quả cho thấy khoảng 10,8% phụ nữ bị TCSS. Ông gọi đó là trầm cảm “không điển hình” vì các triệu chứng của TCSS không giống với bệnh tâm thần khác [28, tr. Khái niệm trầm cảm không có loạn thần xuất hiện vào năm 1970.
Từ đó đến nay trầm cảm cũng như loạn thần liên quan đến thai sản được nghiên cứu ngày càng nhiều và có hệ thống đặc biệt là ở các nước phát triển [66, tr 2646-2658]. Một số kết quả nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở nƣớc ngoài Đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về trầm cảm sau sinh. Nội dung các nghiên cứu rất đa dạng, tập trung về các vấn đề như nguyên nhân, cơ chế bệnh, đặc điểm, triệu chứng, biểu hiện bệnh, các yếu tố văn hóa xã hội, sang chấn tâm lý có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh. Ví dụ Chandran và cộng sự (2002) nghiên cứutrên 359 bà mẹ trong 3 tháng cuối thời kỳ mang thai và 6-12 tuần sau sinh báo cáo tỷ lệ trầm cảm sau sinh chiếm 19,8% các yếu tố ảnh hưởng đến như thu nhập thấp, giới tính của con (mong muốn con trai), mối quan hệ không tốt với mẹ chồng và cha mẹ đẻ, các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống khi mang thai, thiếu sự hỗ trợ xã hội [29, tr 499- 504] Patel và cộng sự (2002) nghiên cứu trên 252 bà mẹ Ấn Độ sau sinh tại BV cho thấy Lần 1: 6 -8 tuần sau sinh kết quả có tới 23% TCSS, Lần 2: 6 tháng sau sinh kết quả có tới 22% TCSS.
Các yếu tố liên quan đến là lo lắng trước sinh, kinh tế khó khăn, bạo lực gia đình, giới tính của trẻ, mối quan hệ trong hôn nhân không như mong muốn [53, 1355-1373] Emma Robertson và cộng sự (2004) nghiên cứu trên 14000 đối tượng vàsử dụng thang đo Edinburgh Postpartum Depression Scale (EPDS) cho thấy có tới 10000 bà mẹ có yếu tố nguy cơ rối loạn TCSS. Có tới 30 – 75% (3 ngày – 2 tuần) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com baby blues, trầm cảm sau sinh chiếm 10 – 15 % trong vòng 6 tháng sau sinh, rối loạn tâm thần sau sinh chiếm 0,1 – 0,2% trong vòng 2 tuần sau sinh [39, tr 289- 295] Một nghiên cứu dịch tễ học khác của Hồng Kong mà tác giả Lee và cộng sự (2005) trên 959 bà mẹ sau sinh 6 tháng tại bệnh viện được sử dụng công cụ EPDS với điểm cut off > 9. Kết quả có 12,7% các bà mẹ TCSS với các yếu tố có liên quan như TC trong khi mang thai, có mối quan hệ không tốt với mẹ chồng, lịch sử TC, căng thẳng trong hôn nhân [56, tr 77-103] Nghiên cứu của Reck và cộng sự (2004) trên 853 bà mẹ ở Đức và đánh giá 2 tuần sau sinh bằng Edinburgh cho thấy tỷ lệ “baby blues” (trầm cảm thoáng qua) ở phụ nữ Đức là 55,2% và có liên kết quan trọng giữa trầm cảm thoáng qua thai sản với trầm cảm sau sinh, trầm cảm thoáng qua thai sản với rối loạn lo âu [64, tr 77-87] Theo Elizabeth Coorwin và cộng sự (2006), trường đại học bang Ohio nghiên cứu trên 31 bà mẹ sinh đủ tháng, không có biến chứng lúc sinh thì có 10/31 bà mẹ có những triệu chứng trầm cảm sau sinh vào tuần thứ tư. Sau khi sinh có tình trạng mệt mỏi cao hơn 2 tuần sau sinh.
Ước tính khoảng 12% bà mẹ trầm cảm sau sinh trong vòng 1 năm sau sinh và khoảng 19% ở dạng nhẹ [37] Một nghiên cứu ngoài cộng đồng khác tại Pakistan tác giả Husain và cộng sự (2006) nghiên cứu trên 175 bà mẹ đang mang thai (lần 1) và 149 bà mẹ sau sinh 3 tháng (lần 2). Công cụ được dùng để đo là thang EPDS kết quả cho thấy tỷ lệ TCSS chiếm 36% với các yếu tố bạo lực gia đình, hỗ trợ xã hội thấp(gia đình, bạn bè, chồng) và lo lắng trước khi sinh [50, tr268-276]. Nghiên cứu khác của Xie và cộng sự (2007) trên 300 bà mẹ sau sinh 6 tuần tại 4 bệnh viện của Trung Quốc và sử dụng thang đo EPDS. Kết quả cho thấy 17,3% bà mẹ TCSS với các yếu tố ảnh hưởng như giới tính của trẻ, sự hài lòng với cuộc sống [53, tr 1355-1373] Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2005) trên T1:335 (bà mẹ đang mang thai), T2: 244 bà mẹ sau sinh 6 tuần tại cộng đồng, sử dụng thang EPDS.
Tác giả đã 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công bố có 24,2% các bà mẹ TCSS với EPDS các yếu tố liên quan là TC trước sinh và lo lắng trước sinh [56, tr 77-103] Với nghiên cứu của Mayumi Watauabe và cộng sự (2008) đã điều tra 235 bà mẹ trước khi sinh và điều tra lại sau 5 ngày, 1 tháng, 3 tháng sau khi sinh. Công cụ sử dụng để điều tra là thang EPDS của Edinburgh. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 12,8% khách thể nghiên cứu đáp ứng tiêu chí rối loạn trầm cảm sau sinh theo thang đo này [58, tr 211-217] Một nghiên cứu khác về bệnh trầm cảm ở nhóm phụ nữ nghèo trong độ tuổi sinh đẻ có con 12 tháng tuổi hoặc lớn hơn của tác giả Weitzman (2010) nghiên cứu được thực hiện trên 845 bà mẹ nói tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha và đánh giá nhanh triệu chứng trầm cảm (QIDS-SR) bảng câu hỏi gồm 16 đề mục được thiết kế đo lường độ nặng của trầm cảm cho thấy có 44% (372 bà mẹ ) có triệu chứng trầm cảm [72, tr 2010-3034] Nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở các nước phát triển như một nghiên cứu về phụ nữ Arap sống ở Quatar mà tác giả là Benner (2011) đã nghiên cứu trên 1379 bà mẹ. Công cụ nghiên cứu là thang EPDS.
Thời gian điều tra là 6 tháng sau khi sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS là 17,6% các bà mẹ trên 35 tuổi là 49,9%. Các yếu tố như khó khăn về tài chính, sinh non, thiếu sự hỗ trợ của gia đình mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân đã được xác định là yếu tố nguy cơ chính cho việc phát triển TCSS [27, tr 325-337] Nghiên cứu của tác giả Dennis(2012) trên 6421 bà mẹ sau sinh ngoài cộng đồng tại Canada sử dụng thang đo EPDS kết quả cho thấy có tới 8% TCSS[35, tr 537-546] Bảng 1 dưới đây tóm tắt lại các kết quả nghiên cứu về TCSS ở nước ngoài đã được chúng tôi điểm luận trong phần này. Sơ lược kết quả nghiên cứu đi trước về TCSS ở nước ngoài STT Tác giả Mẫu Công cụ Thời gian Tỷ lệ Các biến, nguy đo TCSS đo TCSS cơ yếu tố ảnh % hƣởng 1 Chandran 359 CIS-R 6-12 tuần 19,8 -Thu nhập thấp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (2002) -Giới tính -Mối quan hệ không tốt với mẹ chồng -Các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống -Thiếu sự hỗ trợ 2 Patel 252 EPDS T1: 6-8 T1: 230 -Lo lắng trước (2002) (≥ 12) tuần T2: 220 sinh T2:6 tháng -Kinh tế khó khăn -bạo lực gia đình -Giới tính -Quan hệ hôn nhân không như mong muốn 3 Emma 14000 EPDS 2 tuần sau 10-15 Robertson sinh Không đề cập (2004) 4 Lee (2005) 959 EPDS 6 tháng sau 12,7 -TC trong khi (>9) sinh mang thai -Có mối quan hệ không tốt với mẹ chồng -Lịch sử TC -Căng thẳng trong hôn nhân 5 Reck(2004) 853 EPDS 2 sinh tuần 55,2 Không đề cập sau sinh 6 Elizabeth 31 4 tuần sau 30 Coorwin sinh Không đề cập (2006) 7 Husain 175 EPDS 3 tháng sau 36 -Bạo lực gia đình (2006) (≥ 12) sinh -Thiếu sự hỗ trợ xã hội 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.