Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH VÀ TỔNG QUAN GIÁO XỨ ĐỀN THÁNH PHÚ NHAI – GIÁO PHẬN BÙI CHU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO 1. Các khái niệm liên quan Khái niệm “ứng xử” Từ lâu, ứng xử giữa con người với con người luôn là đối tượng được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau. Dưới góc độ tâm lý học có thể xem Watson J.
(1878 -1958) là người đầu tiên hướng sự chú ý đến vấn đề này trong hệ tư tưởng của thuyết hành vi. Xuất phát từ quan điểm coi con người như là một cỗ máy, có khả năng phản ứng để thích nghi với hoàn cảnh, nên Watson hiểu hành vi của con người là phản ứng của cơ thể đáp lại sự kích thích. Ông đưa ra công thức nổi tiếng : S-R (kích thích – hành vi) và cho rằng tác nhân kích thích của ngoại giới (S – Stimulus) tác động vào cơ thể đều cho ra phản ứng trả lời (R – responses). Theo ông S-R là công thức diễn tả cơ chế của hành vi ứng xử con người, mối quan hệ giữa cá nhân và môi trường sống của mỗi cá nhân.
Trong lý thuyết này vai trò của ý thức cũng như như các hiện tượng tâm lý khác không được Watson quan tâm, vì vậy, hành vi của con người mang tính thụ động. Đây chính là hạn chế lớn nhất của ông. Sau này nhiều quan điểm tiến bộ hơn đã được xây dựng nhằm khắc phục hạn chế của Watson, trong đó có tính ý thức, chủ động của con người trong ứng xử với các vấn đề khác nhau của cuộc sống đã được nhấn mạnh như một đặc trưng của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội đặc biệt trong môi trường gia đình. 14 Nói đến ứng xử là nói đến cách sống, cách đối nhân xử thế, cách cư xử, thái độ và hành vi của cá nhân, của nhóm xã hội đối với một vấn đề, một cá nhân hay một nhóm xã hội khác.
Tuy đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nhưng đến nay vẫn chưa có một các hiểu thống nhất về khái niệm ứng xử. Trong tiếng Việt, các thuật ngữ “ứng xử”, “đối xử”, “cư xử”… có khi được dùng như nhau, nhưng cũng có nhiều học giả nghiên cứu xem chúng có các nghĩa khác nhau trong các hoàn cảnh khác nhau. Một số tác giả hiểu khái niệm ứng xử với nghĩa rất rộng. Chẳng hạn, theo Nguyễn Khắc Viện, theo tác giả ứng xử là “tiếp nhận một mối kích thích, ứng phó đối xử lại.
Từ này nói lên tất cả các loại hành động của thú vật hay con người. Từ hành vi dùng cho những ứng xử có tính phức tạp và hàm ý có ý đồ nhất định, nhưng hai từ này đều dùng thay thế cho nhau”. Theo các tác giả Trịnh Trúc Lâm và Nguyễn Văn Hộ : “Những phản ứng đáp lại đối với tự nhiên (theo nghĩa là thế giới vật chất bao quanh mỗi con người và theo nghĩa là những con người khác, những mối quan hệ khác, kể cả những sản phẩm do con người tạo ra) theo cách này hay cách khác có thể coi là ứng xử”.13-18] Ứng xử trong xã hội được hiểu là cách hành động của các vai trò xã hội nào đó được một chủ thể xã hội khác cũng có một vị trí xã hội. Như vậy, ứng xử xã hội trước tiên là cách hành động của các vai xã hội với nhau và sau nữa là cách hành động của chủ thể đối với chính bản thân mình, với đồ vật, với môi trường tự nhiên.
Như vậy, theo các tác giả này, thuật ngữ ứng xử được dùng để chỉ cách hành động của cả thế giới động vật và xã hội loài người. 15 Có tác giả lại phân biệt ứng xử với hành vi, chẳng hạn, theo Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương, với cách hiểu phổ thông, “ứng xử là thái độ, hành động, lời nói trong tình huống nhất định, và hành vi được xem như là những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một người trong hoàn cảnh cụ thể. 1754 và 720] Như vậy theo các tác giả này, khái niệm ứng xử có nội hàm rộng hơn các khái niệm hành vi, tuy nhiên hành vi chính là thước đo quan trọng của ứng xử. Một số tác giả đưa ra khái niệm ứng xử khi bàn luận về các mối quan hệ giữa con người – con người.
Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng : “Ứng xử là những phản ứng, hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp do những rung cảm cá nhân kích thích, nhằm lĩnh hội, truyền đạt những tri thức, vốn sống kinh nghiệm cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định”.14] Theo Lê Thị Bừng, “Ứng xử là một từ ghép của hai từ ứng và xử. Mà ứng lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau như: ứng phó, ứng đáp, ứng đối, ứng biến, và xử, xử sự, xử lí, xử thế…”. Tác giả đưa ra một số định nghĩa về ứng xử như sau: Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không những chủ động trong giao tiếp mà còn chủ động trong phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng – tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt được kết quả cao nhất.
Tác giả còn đưa ra các cách phân loại ứng xử như sau: - Căn cứ vào yêu cầu đạo đức của xã hội có hai kiểu: ứng xử tốt – đúng mực và ứng xử xấu. 16 - Dựa vào các giá trị xã hội – nhân văn thì có các nhóm ứng xử sau: Nhóm các giá trị ứng xử đối với bản thân và đối với người khác; nhóm các giá trị ứng xử ở gia đình và đối với bạn bè; nhóm giá trị ứng xử đối với xóm giềng và cộng đồng, với xã hội và với quốc gia, nhóm các giá trị ứng xử đối với cộng đồng thế giới; nhóm các giá trị ứng xử đúng đắn với tương lai và sức sống của trái đất. - Dựa vào phong cách ứng xử có ba kiểu ứng xử thường gặp: kiểu ứng xử độc đoán, kiểu ứng xử tự do, kiểu ứng xử dân chủ. - Dựa vào tâm thế.
- Dựa vào kiểu thần kinh của khí chất có kiểu ứng xử mạnh mẽ, kiểu ứng xử linh hoạt, kiểu ứng xử bình thản, kiểu ứng xử chậm. - Dựa vào thái độ, điệu bộ: kiểu ứng xử hiển nhiên, ứng xử bắt buộc, ứng xử tự do. Điểm chung trong những định nghĩa nêu trên là các nhà nghiên cứu đều có ý xem ứng xử là “sự ứng phó đối xử lại” một kích thích, tác động nào đó của chủ thế. Trong trường hợp chủ thể là con người thì sự “ứng phó đối xử lại” đó chịu sự chi phối bởi vai xã hội mà con người cụ thể đó đang nắm giữ khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội nhất định.
Tham gia vào các mối quan hệ xã hội đó, các cá nhân tương tác với nhau làm xuất hiện những “tác nhân kích thích” gây ra những hành vi ứng xử của con người. Như vậy, ứng xử bao giờ cũng được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội, chịu sự chế định của các chuẩn mực, khuôn mẫu của các quan hệ đó. Ứng xử còn là sự giao thoa có tính nghệ thuật giữa “cái tự nhiên”, “cái xã hội” trong bản chất của con người. Ứng xử không chủ động trong giao tiếp, không chủ động tạo ra hành động nhưng chủ động trong thái độ, hành vi, cử chỉ của mỗi người trong một 17 tình huống cụ thể nào đó.
Ứng xử được thể hiện trong một tình huống giao tiếp cụ thể, song không phải mọi sự giao tiếp đều có ứng xử xảy ra. Bản chất của ứng xử trước hết được xuât phát từ cái tâm, cái tình : để “Ở sao cho vừa lòng người”. Trong cuộc sống chúng ta thường thấy mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, vì vậy chúng ta rất khó tìm được sự giống nhau giữa người này với người kia, giữa nhóm người này với nhóm người kia. Nhưng dù khác nhau trong cách ứng xử của mỗi người, thì mỗi một người trong cung cách ứng xử của mình vẫn luôn phải thể hiện cái tâm nhân hậu.
Cái tâm nhân hậu giúp người ta ứng xử với nhau độ lượng, nhân đạo hơn, dễ dàng cảm thông và chia sẻ hơn.14] Khái niệm “văn hóa” Đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu văn hóa đưa ra các định nghĩa về văn hóa, đứng ở nhiều lĩnh vực và góc độ khác nhau. Về khái niệm văn hóa, từ gốc của cả Phương Đông và Phương Tây đều xuất phát từ nghĩa căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn. Có thể dẫn ra đây một các định nghĩa về văn hóa liên quan đến ứng xử của con người. “Văn hóa là lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện của văn minh.
“Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và xã hội của nhóm người, các thiết chế, phong tục và phản ứng trong các ứng xử của họ.” [33, tr 34] “Văn hóa là cách ứng xử mà các thành viên trong xã hội học được.” [33, tr 34] “Văn hóa là hình thế chung những ứng xử đã học được và của những kết quả của chúng mà các yếu tố được thừa nhận và được truyền bởi các thành viên của một xã hội nhất định”[8, tr.48] 18 Văn hóa là hiểu biết, để từng bước làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. Trong mọi điều hiểu biết, thì hiểu biết làm người, hiểu biết xử sự và xử thế, đối với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên là biểu hiện đẹp đẽ nhất của văn hóa [25, tr 43]. Khái niệm “gia đình” và “gia đình Công giáo” Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình. Một số tác giả nhấn mạnh đến yếu tố cùng chung một mái nhà.
Gia đình gồm bố mẹ, con và có hoặc không một số người khác ở chung một nhà.303] Một số tác giả nhấn mạnh đến mối quan hệ trong gia đình và một số đặc trưng khác của gia đình.