phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm có 2 chơng, 6 tiết và các tiểu kết chơng. Chong 1: Một số vấn đề lý luận chung về văn hóa ứng xử giữa vợ và chồng trong gia đình ở Việt Nam hiện nay. Chơng 2: Thực trạng văn hóa ứng xử giữa vợ và chồng trong gia đình ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay. NỘI DUNG Chong 1.
MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE VAN HOA UNG XU GIỮA VỢ VÀ CHONG TRONG GIA DINH O VIET NAM HIEN NAY 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú, với sự phát triển của lịch sử loài ngời thì nội hàm của khái niệm văn hóa mở rộng không ngừng. Mặt khác, mỗi một học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phd hop voi van dé minh cần nghiên cứu đề đa ra các khái niệm về văn hóa.
Bởi vậy, cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa đợc ra đời. Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phơng Đông cũng nh ở phơng Tây. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, vấn đề bản tính con ngời là một vấn đề cơ bản, xuyên suốt trong lịch sử triết học Trung Quốc. Các trờng phái triết học Trung Quốc thời cô đại đều cho rằng bản tính con ngời do trời phú, mỗi ngời sinh ra ai đều đã có.
Không Tử và Mạnh Tử thì cho rằng con ngời sinh ra ai cũng mang tính thiện. Mạnh Tử và Hàn Phi Tử thì khẳng định bản tính con ngời vốn ác. Tuy khẳng định tính ngời do trời sinh, nhng các triết gia Trung Quốc cổ đại cũng không tuyệt đối hóa, rằng tính ngời đó vẫn còn mãi và không có sự thay đôi. Các ông đều chỉ ra rằng, hoàn cảnh sống của mỗi ngời có tác động lớn và làm biến đổi bản tính con ngời, giúp cải hóa đợc để con ngời đạt dến sự hoàn thiện nhất, trở thành các bậc thánh nhân.
Mỗi trờng phái triết học lại đa ra cách giáo hóa bản tính con ngời khác nhau. Khái niệm văn hóa đã đợc dé cập nh là một phơng pháp đề giáo dục bản tính con ngời. Văn hóa đợc hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dòng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con ngời. Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng sức mạnh để cai trị.
Ở Việt Nam thời phong kiến có Nguyễn Trãi cũng đã mơ ớc một xã hội van tri, lay nền tảng văn hiến cao, lay trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi ngời làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội. Ở phơng Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tỉnh “cultura”, có nghĩa là vun trồng cây cối trên đất đai. 10 Thời đại Phục Hng, còng với sự say mê và quan tâm trở lại nền triết học La Mã cổ đại, thuật ngữ văn hóa đợc biến đổi và gắn với ý niệm về sự phát triển con ngời. Các triết gia cổ đại phơng Đông và phơng Tây đều khẳng định rằng con ngời là từ tự nhiên mà ra, không thê tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển.
Cho nên, văn hóa trớc hết là một sự thích nghi chủ động và có ý thức của con ngời với tự nhiên, đồng thời lại là sự phát triển của sự thích nghỉ ấy. Với tính cách là một sinh vật, con ngời mang bản chất tự nhiên. Nhng với tính cách là một sinh vật có ý thức và sống thành xã hội thì con ngời lại có bản chất văn hóa, vợt ra khỏi bản chất tự nhiên. Văn hóa là những gì không phải tự nhiên.
Một trong những ngời đa ra khái niệm văn hoá sớm nhất là E. Taylor - Nhà nhân loại học văn hóa ngời Anh, sinh năm 1832. Trong cuốn “Văn hoá nguyên thuỷ” (Primitive Culture, 1871), ông quan niệm văn hoá là một phức hợp nhiều mặt, do con ngời tạo nên và mang tính xã hội: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc ngời học, nói chung gồm có tri thức, tín ngỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác đợc con ngời chiếm lĩnh với t cách là thành viên của xã hội” [39, tr. Ông coi văn hóa và văn minh là một và đã định nghĩa văn hóa theo cách liệt kê các hình thái của văn hóa, bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con ngời, từ tri thức, tín ngỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật.
Tuy nhiên, quan niệm của ông không có sự phân biệt rõ ràng để xác định đâu là hình thái của văn hóa, còn đâu là hình thái của xã hội. Nhà nhân chủng học ngời Mỹ Franz Boas (1858 - 1942) đã đa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh than, thé chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm ngời vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trờng tự nhiên của họ, với những nhóm ngời khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [51]. Theo định nghĩa của ông thì văn hóa đợc xem là những ứng xử của con ngời với thế giới, quy định nên xã hội, trong đó mỗi quan hệ giữa cá nhân, tập thé và môi trờng là những mối quan hệ quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con ngời. 11 Một định nghĩa khác về văn hóa mà Nhà nhân học Kroeber (1876 - 1960) và Kluckhohn (1905 - 1960) đa ra là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị đợc truyền đạt dựa trên những biểu trng, là những yếu tố đặc trng của từng nhóm ngời.
Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo” [52]. Có thể hiểu, văn hóa là sự trừu tợng hóa những hành động thực tiễn của con ngời, nghĩa là văn hóa đợc khái quát hóa từ những đặc trng cơ bản của một cộng đồng ngời nhất định. Cho nên, văn hóa mang tính thống nhất. Đặc biệt, các ông khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho hành động của con ngời.
Kế thừa những t tởng của các triết gia phơng Đông và phơng Tây trong lịch sử, cùng với quá trình hoạt động cách mạng C.Ăngghen cũng đã đa ra nhiều đánh giá khái quát có liên quan tới văn hóa. Toàn bộ t tởng về văn hóa của hai ông đợc thê hiện sâu sắc qua hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về con ngời và xã hội. Các ông khẳng định rằng: Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng quyết định sự vận động, biến đổi và phát triển của xã hội; nhắn mạnh vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội. Trong tác phâm Bản thảo Kinh tế - Triết học năm 1844, C.Mác có viết: “Cho nên chính trong việc cải biến thế giới vật thể, con ngời lần đầu tiên thực sự khẳng định mình là một sinh vật có tính loài.
Sự sản xuất đó là đời sống có tính loài tích cực của con ngời. Nhờ sự sản xuất đó, giới tự nhiên biểu hiện ra là tác phẩm của nó (con ngời) và thực tại của nó” [30, tr.Mác đã đồng nhất văn hóa với phơng thức mà con ngời sử dụng lao động để cải biến thực tại khách quan hay giới tự nhiên để trở thành “tác phâm của con ngời” và “thực tại”. Tuy nhiên, không phải bất cứ lao động nào của con ngời cũng đợc gọi là văn hóa. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen nhận thấy rằng: “Đàn vợn chỉ biết ăn hết sạch lơng thực sẵn có trong khu vực mà điều kiện địa lý hoặc là sự kháng cự của các đàn vợn bên cạnh đã hạn định cho chúng” [27, tr.
647]; “Nhng tất cả những cái đó vẫn cha phải là lao động, đóng theo ý nghĩa của nó. Lao động bắt đầu cùng với việc chế tạo ra cộng cụ” [27, tr. Nghĩa là loài vợn nếu chỉ biết tồn tại bằng cách ăn những thứ sẵn có trong tự 12 nhiên thì chúng sẽ vân chỉ là một loài động vật mang tính bản năng, một cá thé bi phụ thuộc vào tự nhiên, không thể trở thành chu thé của quá trình cải tạo và phát triển tự nhiên, cho nên, chỉ có lao động sáng tạo mới là động lực giúp quá trình chuyên biến từ vợn thành ngời và đó cũng là cội nguồn của văn hóa.Ăngghen một mặt luôn nhấn mạnh vai trò quyết định của kinh tế đối với sự phát triển của xã hội, mặt khác cũng không xem nhẹ vai trò quan trọng của yếu tố tỉnh thần trong phát triển kinh tế - xã hội. Vào đầu những năm 20 của thế kỉ XX, nhà nớc Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết ra đời đã đánh dấu lần đầu tiên chủ nghĩa xã hội đã từ lý luận trở thành hiện thực, chứ không chỉ là khát vọng, t tởng, phong trào xã hội hay lý luận nh trớc đó.
Xét theo lịch sử vấn đề, C.Ăngghen là những nhà lý luận đặt nền móng và V.Lênin là ngời có những tông kết lý luận đầu tiên về xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực. Trong quá trình xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, khi “Chính sách Cộng sản thời chiến” đợc chuyên sang “Chính sách kinh tế mới” (NEP), V.Lênin khẳng định một trong những vấn đề quan trọng đó là phải xây dựng đợc một nền hóa mới xã hội chủ nghĩa: “Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: Trớc đây chúng ta đã đặt và không thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền. Ngày nay, trọng tâm ấy đã chuyển sang công tác hòa bình tô chức “văn hóa”” [21, tr. Van dung nguyên tắc lịch sử - cụ thé, V.LLénin thấy rằng nhiệm vụ căn bản của cách mạng là vấn đề chính quyền, Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân - phải là lực lợng lãnh đạo Nhà nớc, có nh vậy mới khẳng định đợc sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trớc chủ nghĩa t bản.
Song, trong hoàn cảnh lịch sử mới - khi đảng Cộng sản là đảng cầm quyền duy nhất - còng với việc xây dựng nền kinh tế mới, Đảng và Nhà nớc xã hội chủ nghĩa phải bắt tay ngay vào xây dựng một nền văn hóa mới khác hoàn toàn với các nền văn hóa trớc đó trong lịch sử. Cụ thé, theo V.