Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học (mã số: 62 31 02 04) với đề tài "Xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh" được tác giả Nguyễn Thị Việt Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cố PGS.TS. Phạm Ngọc Anh và GS.TS. Hoàng Chí Bảo, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí nền tảng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định: "Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt". Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, văn hóa gia đình vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội, đồng thời là thành tố cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đã tác động tiêu cực đến đời sống gia đình Việt Nam, làm nảy sinh tình trạng quan hệ gia đình lỏng lẻo, chuẩn mực bị nhiễu loạn, tệ nạn xã hội và hiện tượng phi nhân tính trong gia đình gia tăng. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu trước đây về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với gia đình thường chỉ tiếp cận đơn lẻ, thiếu tính hệ thống và bao quát. Việc nghiên cứu một cách toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình là đòi hỏi cấp thiết từ cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là sự thiếu vắng một công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Hồ Chí Minh học nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt và toàn diện về xây dựng văn hóa gia đình; đồng thời cung cấp căn cứ thực tiễn thông qua điều tra xã hội học để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đồng bộ trong giai đoạn đổi mới, hội nhập.

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình, đánh giá thực trạng công tác xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo hệ quy chiếu tư tưởng của Người, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng gia đình Việt Nam phát triển bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Khảo cứu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, rút ra nhận xét, đánh giá và xác định các vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu.
  2. Làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài luận án.
  3. Hệ thống hóa và phân tích những quan điểm chủ yếu của Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  5. Xác định những yếu tố tác động, trình bày quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm 4 nội dung:

  • Thứ nhất: Hồ Chí Minh tuy không có gia đình riêng nhưng Người có "đại gia đình" lớn là giai cấp công nhân toàn thế giới và nhân dân Việt Nam; từ gia đình lớn, Người suy ra những vấn đề thiết thân của gia đình nhỏ.
  • Thứ hai: Trong di sản Hồ Chí Minh có hệ thống những quan điểm nhất quán về gia đình và xây dựng văn hóa gia đình.
  • Thứ ba: Thực tiễn cuộc đời, hoạt động cách mạng và tình cảm của Hồ Chí Minh đối với gia đình, nhân dân là sở cứ đáng tin cậy xác nhận hệ thống quan điểm trên.
  • Thứ tư: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là hệ quy chiếu để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình và vấn đề xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng của Người.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Khảo sát các tác phẩm, sự kiện và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa.
  • Về không gian và thời gian vận dụng: Tập trung nghiên cứu thực tiễn xây dựng văn hóa gia đình tại Việt Nam, đặc biệt chú trọng giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân tích theo ba hướng chính:

Hướng thứ nhất: Tình hình nghiên cứu về văn hóa gia đình Việt Nam. Luận án điểm lại các công trình tiêu biểu như:

  • Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.06-08 do Lê Minh chủ nhiệm (1992) với hai công trình xuất bản năm 1994: Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội và Thực trạng văn hóa gia đình Việt Nam, đặt nền móng lý luận về khái niệm, hệ giá trị (bảo thủ, hãnh tiến, kế thừa - phát triển) và vai trò của phụ nữ trong văn hóa gia đình.
  • Các ấn phẩm chuyên khảo và giáo trình: Văn hóa gia đình Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh (khảo sát văn hóa gia đình qua câu chuyện thực tế); Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em của Lê Như Hoa; Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam của tập thể tác giả Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Sách xanh gia đình Việt Nam của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Văn hóa gia đình của Bùi Đình Châu; Gia đình học của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý; Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam của Lê Ngọc Văn.
  • Các bài viết học thuật: Hồ Liên, Tạ Văn Thành, Phạm Tùng Thư, Huyền Giang, Nguyễn Hồng Mai, Đặng Cảnh Khanh, Đào Hùng, Hoàng Bá Thịnh, Phan Thị Cẩm Lai, Lê Thi, Thành Duy, Văn Kỳ Thanh, Trường Lưu, Ngô Quốc Đông, Trần Thị Thu Nhung, Dương Quốc Hùng, Trần Thị Tuyết Mai, Dương Thị Minh, Vũ Thy Huệ - Vũ Phương Hậu.
  • Các công trình nghiên cứu phong tục, truyền thống và ảnh hưởng Nho giáo: Toan Ánh (Nếp cũ - Con người Việt Nam), Vũ Văn Khiếu (Đất lề quê thói: Phong tục Việt Nam), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương), Trần Quốc Vượng (Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm), Bùi Xuân Mỹ (Lễ tục trong gia đình người Việt), Dương Thu Ái - Nguyễn Kim Hạnh (Giáo dục truyền thống văn hóa gia đình cổ xưa), Vũ Khiêu - Lê Thị Quý - Đặng Nhứ (Nho giáo và gia đình), Phan Ngọc (Văn hóa gia đình Việt Nam).
  • Luận văn, luận án liên quan: Hồ Thị Ngọc Sao (luận văn Thạc sĩ, 2013), An Thị Ngọc Trinh (luận án Tiến sĩ, 2016).
  • Đề tài cấp Bộ và hội thảo chuyên đề: Đề tài của Trần Đức Ngôn (Văn hóa gia đình Việt Nam trong thời đại mới); đề tài của Lê Thị Quý (Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020); các kỷ yếu hội thảo quốc tế và tọa đàm khoa học với bài tham luận của Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Linh Khiếu, Hoàng Hồng Hạnh, Phạm Đỗ Nhật Tiến.
  • Các nghiên cứu của học giả nước ngoài về gia đình Việt Nam: Maitre (1908), Luco, Solus, Pierre Huard (Nhận thức về Việt Nam với nhận định "người chồng trị vì, người vợ quản lý"), Insun Yu (Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII), Léopold Cadière (Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L. Cadière do Đỗ Trinh Huệ biên khảo).

Hướng thứ hai: Tình hình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và văn hóa gia đình. Luận án khảo cứu các bài viết, đề tài:

  • Đinh Xuân Lâm và Bùi Đình Phong (Hồ Chí Minh văn hóa và đổi mới), Đinh Khắc Tuấn, Lữ Tuyết Mai, Lê Quý Đức, Vũ Thị Cúc, Lê Thị Hồng Hải (đề tài cấp Viện của Viện Gia đình và Giới năm 2007), Nguyễn Như An, Lê Văn Diệu, Lê Thị Quý (Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ Đổi mới).

Hướng thứ ba: Tình hình nghiên cứu về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng gia đình và văn hóa gia đình Việt Nam. Gồm các nghiên cứu của:

  • Hà Thị Bắc, Lê Thi, Ninh Thị Hồng Hạnh (luận văn Thạc sĩ), Trần Thị Huyền (luận án Tiến sĩ), Phan Văn Phờ, Nguyễn Thị Yến (luận văn Thạc sĩ), Trung Thị Thu Thủy.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về gia đình và văn hóa gia đình tương đối phong phú, song chưa có công trình khoa học chính trị nào nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện về xây dựng văn hóa gia đình trong di sản Hồ Chí Minh. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài viết ngắn, phân tích đơn lẻ một số khía cạnh (bình đẳng giới, hôn nhân, giáo dục con cái) mà chưa gắn kết văn hóa gia đình với đường lối chính trị, thể chế và chính sách của Đảng, Nhà nước. Luận án đặt văn hóa gia đình trong mối quan hệ với chính trị, hệ thống hóa toàn diện tư tưởng của Người và sử dụng dữ liệu điều tra xã hội học thực nghiệm tại ba miền để làm sáng tỏ thực trạng và giải pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ

Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, gia đình và con người.

Khung phân tích khái niệm được tác giả xác định và chuẩn hóa gồm:

  • Khái niệm Văn hóa: Kế thừa quan niệm của Hồ Chí Minh trong Nhật ký trong tù (Mục đọc sách, tháng 8/1943): "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa". Văn hóa được nhìn nhận qua ba chiều cạnh: hoạt động, giá trị và sáng tạo.
  • Khái niệm Văn hóa gia đình (VHGĐ): Luận án định nghĩa: "Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị đặc thù theo hướng Chân – Thiện – Mỹ mà các thành viên trong gia đình cùng hoạt động, sáng tạo, tiếp nhận, thấm sâu để tổ chức đời sống và điều tiết các mối quan hệ trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, vừa chịu sự tác động của xã hội, vừa tác động lại xã hội".
  • Khái niệm Gia đình văn hóa (GĐVH): Là danh hiệu thi đua xã hội ghi nhận, tôn vinh các gia đình đạt được các tiêu chuẩn, chuẩn mực giá trị do Nhà nước và các tổ chức ban hành theo từng giai đoạn lịch sử (từ năm 1962, 1973, 1975, 1989, 2002, 2006, 2011 đến Nghị định 122/2018/NĐ-CP).
  • Khái niệm Xây dựng văn hóa gia đình (XDVHGĐ): Luận án định nghĩa: "Xây dựng văn hóa gia đình là quá trình xác lập hệ thống những giá trị đặc thù theo hướng Chân – Thiện – Mỹ đến với từng thành viên trong gia đình nhằm củng cố đời sống, các mối quan hệ trong gia đình, giữa các gia đình, giữa gia đình với xã hội; đảm bảo sự hình thành nhân cách con người; có sức mạnh chống lại những phản văn hóa đang xâm nhập vào gia đình, hướng đến gia đình văn hóa, góp phần phát triển xã hội".
  • Khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình: Là hệ thống các quan điểm của Người về sự cần thiết, nội dung, điều kiện và biện pháp xây dựng văn hóa gia đình; kết quả của sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về gia đình và xây dựng văn hóa gia đình của dân tộc, nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu liên ngành:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích văn bản học (khảo sát văn bản Hồ Chí Minh Toàn tập, văn kiện Đảng, văn bản pháp luật), phân tích - tổng hợp, so sánh, chứng minh.
  • Phương pháp điều tra xã hội học định lượng:
    • Quy mô mẫu: 600 phiếu hỏi cấu trúc.
    • Phân bổ địa bàn: 6 tỉnh, thành phố đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận, Gia Lai.
    • Thiết kế chọn mẫu: Tại mỗi tỉnh, thành phố chọn 2 huyện/thành phố/thị xã; tại mỗi huyện chọn 50 phiếu (tổng số 100 phiếu/tỉnh), phân bổ ngẫu nhiên đại diện theo giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn.
    • Công cụ và kỹ thuật xử lý: Dữ liệu được mã hóa, làm sạch và xử lý trên phần mềm thống kê chuyên dụng trong khoa học xã hội SPSS (tính toán tần số phần trăm %, thống kê mô tả và điểm trung bình).
  • Phương pháp điều tra xã hội học định tính: Thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu đối với các nhóm đối tượng nghiên cứu.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tư liệu thành văn: Di sản văn bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII); hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000, 2014; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007; Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg; Nghị định 122/2018/NĐ-CP); các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Bộ số liệu từ 600 phiếu điều tra bảng hỏi và 20 biên bản phỏng vấn sâu do tác giả trực tiếp tiến hành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm: nghiên cứu về văn hóa gia đình Việt Nam; nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và văn hóa gia đình; nghiên cứu về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng gia đình và văn hóa gia đình.

Tác giả đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ở bốn phương diện:

  • Về góc độ nghiên cứu: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ xã hội học, văn hóa học, đạo đức học; chưa có công trình khoa học chính trị đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về xây dựng văn hóa gia đình trong di sản Hồ Chí Minh.
  • Về tính hệ thống: Đa số công trình tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ (vai trò phụ nữ, bình đẳng giới, giáo dục gia đình), thiếu vắng một công trình bao quát toàn diện hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình.
  • Về tính lý luận: Mảng nghiên cứu lý luận chuyên sâu về văn hóa gia đình theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn trống vắng.
  • Về tính thực tiễn: Thiếu các công trình kết hợp giữa phân tích lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh với khảo sát thực nghiệm quy mô liên vùng về thực trạng xây dựng văn hóa gia đình trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình

Chương 2 làm rõ cơ sở hình thành, nội dung và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình thông qua ba nội dung chính:

  • Xác lập hệ thống khái niệm công cụ: Phân biệt bản chất giữa "văn hóa gia đình" (thuộc tính khách quan, hệ giá trị cốt lõi hướng tới Chân - Thiện - Mỹ) và "gia đình văn hóa" (danh hiệu thi đua xã hội theo các tiêu chí chuẩn mực quy ước); định nghĩa khoa học về "xây dựng văn hóa gia đình" và "tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình".
  • Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình:
    • Khái quát tư tưởng về gia đình: Xác định gia đình là "hạt nhân của xã hội", mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội ("xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt"). Gia đình giữ vị trí then chốt trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc ("Mọi gia đình đều đoàn kết cộng lại thành xã hội đại đoàn kết") và là nền tảng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
    • Các nội dung cơ bản: Xây dựng chế độ hôn nhân tự do, tiến bộ, một vợ một chồng trên cơ sở tình yêu chân chính; thực hiện bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ; xây dựng mối quan hệ hòa thuận, dân chủ, tôn trọng giữa các thế hệ trong gia đình; đề cao vai trò giáo dục gia đình gắn với việc hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa; thực hành đời sống mới trong gia đình thông qua lối sống cần, kiệm, liêm, chính.
  • Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh:
    • Giá trị lý luận: Bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin về gia đình vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; hoàn thiện hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
    • Giá trị thực tiễn: Đóng vai trò kim chỉ nam định hướng cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định chính sách, pháp luật về gia đình, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và phát triển con người Việt Nam toàn diện.

Chương 3: Thực trạng và vấn đề đặt ra trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 3 phân tích thực trạng công tác xây dựng văn hóa gia đình từ năm 2006 đến năm 2018 trên cơ sở đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp xử lý số liệu điều tra xã hội học thực nghiệm:

Danh mục bảng biểu, biểu đồ trong Chương 3 Nội dung dữ liệu phản ánh Vị trí trang
Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết xây dựng văn hóa gia đình Trang 95
Bảng 3.1 Người quyết định hôn nhân trong gia đình Trang 98
Bảng 3.2 Kênh thông tin mà người trả lời biết đến những chính sách xây dựng văn hóa gia đình Trang 105
Biểu đồ 3.2 Mức độ quan tâm của địa phương đối với công tác xây dựng văn hóa gia đình Trang 107
Biểu đồ 3.3 Lý do cần thiết xây dựng văn hóa gia đình Trang 108
Bảng 3.3 Mức độ trở ngại trong công tác xây dựng văn hóa gia đình Trang 122

Đánh giá thực trạng:

  • Thành tựu: Phong trào xây dựng gia đình văn hóa được triển khai rộng khắp; nhận thức của xã hội và các gia đình về vai trò của văn hóa gia đình được nâng cao; kinh tế gia đình phát triển tạo nền tảng vật chất củng cố đời sống tinh thần; quan hệ gia đình ngày càng dân chủ, tiến bộ, bình đẳng giới được cải thiện rõ rệt.
  • Hạn chế: Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thực dụng xâm nhập vào gia đình; tình trạng bạo lực gia đình, ly hôn, ly thân gia tăng; lối sống thiếu trách nhiệm, lỏng lẻo trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái; phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở một số nơi còn mang tính hình thức, chạy theo thành tích.

Bốn vấn đề lớn đặt ra trong xây dựng văn hóa gia đình hiện nay:

  1. Quan hệ hôn nhân, quy mô và cơ cấu gia đình thay đổi nhưng chất lượng dân số chưa đảm bảo.
  2. Đất nước độc lập, xã hội phát triển nhưng tệ nạn xã hội vẫn không ngừng tăng, luôn là nỗi lo cho các gia đình.
  3. Văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay chưa phát triển tương xứng với những biến đổi tích cực của gia đình và xã hội.
  4. Nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về xây dựng gia đình, gia đình văn hóa nhưng vẫn thiếu tính thực tế, tính đồng bộ, hệ thống và hiệu quả khi đi vào chiều sâu xây dựng văn hóa gia đình.

Chương 4: Những yếu tố tác động, quan điểm và giải pháp xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 4 xác định các yếu tố tác động, xác lập hệ thống quan điểm chỉ đạo và đề xuất 5 nhóm giải pháp chủ yếu:

Những yếu tố tác động:

  • Yếu tố khách quan: Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; mặt trái của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại; sự biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp.
  • Yếu tố chủ quan: Nhận thức và sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; hiệu quả quản lý nhà nước về gia đình; nhận thức, nỗ lực tự thân và năng lực tiếp nhận văn hóa của mỗi gia đình và từng thành viên.

Năm quan điểm chỉ đạo xây dựng văn hóa gia đình theo tư tưởng Hồ Chí Minh:

  1. Xây dựng văn hóa gia đình luôn trở thành nền tảng của văn hóa dân tộc.
  2. Xây dựng văn hóa gia đình trở thành động lực phát triển gia đình.
  3. Đảm bảo những điều kiện vật chất và tinh thần cơ bản cho gia đình – nền tảng của văn hóa gia đình.
  4. Các thành viên trong gia đình là chủ thể chính trong xây dựng văn hóa gia đình, đồng thời cần có sự giúp đỡ của cộng đồng, sự quan tâm hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức xã hội.
  5. Kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của gia đình trong xã hội hiện đại.

Năm nhóm giải pháp chủ yếu:

  1. Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức: Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục sâu rộng tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và văn hóa gia đình; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của văn hóa gia đình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
  2. Nhóm giải pháp về tổ chức xây dựng văn hóa gia đình: Đổi mới nội dung, tiêu chí và quy trình bình xét danh hiệu gia đình văn hóa theo hướng thực chất (áp dụng hiệu quả Nghị định 122/2018/NĐ-CP); xây dựng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, câu lạc bộ gia đình hạnh phúc tại cơ sở.
  3. Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội: Gắn kết chặt chẽ công tác xây dựng văn hóa gia đình với các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo trợ xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục cho gia đình.
  4. Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và từ chính gia đình: Tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc và ngành Văn hóa; phát huy trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực tự giáo dục và giữ gìn nền nếp gia phong của mỗi gia đình.
  5. Nhóm giải pháp về công tác giám sát, kiểm tra, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm: Hoàn thiện cơ chế giám sát thực thi chính sách, pháp luật về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; định kỳ sơ kết, tổng kết các mô hình văn hóa gia đình để kịp thời nhân rộng và điều chỉnh chính sách.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án hệ thống hóa một cách toàn diện, khoa học các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình, làm rõ vị trí "hạt nhân của xã hội" của gia đình trong mối quan hệ biện chứng với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc.
  • Xây dựng và chuẩn hóa định nghĩa khoa học về "văn hóa gia đình" và "xây dựng văn hóa gia đình" dưới góc độ chuyên ngành Hồ Chí Minh học và Khoa học Chính trị; phân định rõ mối quan hệ bản chất giữa văn hóa gia đình và gia đình văn hóa.
  • Làm sáng tỏ giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa gia đình, góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận Hồ Chí Minh học trong thời kỳ đổi mới.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ số liệu điều tra xã hội học thực nghiệm quy mô 600 mẫu tại 6 tỉnh, thành phố đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam, phản ánh khách quan thực trạng, nhận thức và các rào cản trong xây dựng văn hóa gia đình hiện nay.
  • Làm rõ 4 vấn đề lớn đang đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
  • Đề xuất hệ thống 5 quan điểm chỉ đạo nhất quán và 5 nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và quản lý nhà nước về gia đình và văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của chuyên ngành Hồ Chí Minh học và quy mô mẫu điều tra xã hội học (600 phiếu tại 6 tỉnh, thành phố) mang tính chất đại diện khái quát chung cho các vùng miền, luận án chưa đi sâu khảo sát chi tiết đặc thù văn hóa gia đình của từng tộc người thiểu số riêng biệt và các cộng đồng tôn giáo cụ thể tại Việt Nam.
  • Trọng tâm luận án tập trung phân tích giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2018, chưa bao quát những biến động sâu sắc nảy sinh từ các giai đoạn phát triển tiếp theo sau năm 2018.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Đi sâu nghiên cứu văn hóa gia đình theo lát cắt địa - văn hóa, văn hóa tộc người thiểu số và tôn giáo dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Đánh giá tác động thực tế của việc thực hiện Nghị định số 122/2018/NĐ-CP và các văn bản pháp quy mới ban hành đối với chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa tại các địa phương.
  • Nghiên cứu biến đổi văn hóa gia đình Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Khoa học Chính trị, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Văn hóa học, Xã hội học gia đình sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và học tập (đặc biệt là Chương 2 về khung lý thuyết và Chương 3 về dữ liệu thực nghiệm).
  • Cán bộ hoạch định đường lối, chính sách và quản lý nhà nước: Các cơ quan thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành phố, Ban chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" các cấp tham khảo hệ thống quan điểm và giải pháp tại Chương 4 để hoàn thiện chính sách gia đình.
  • Các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp sử dụng trong công tác tuyên truyền, giáo dục nếp sống mới, phòng chống bạo lực gia đình và xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về "Văn hóa gia đình" và phân biệt khái niệm này với "Gia đình văn hóa" ra sao? Trả lời: Theo tác giả, văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị đặc thù theo hướng Chân – Thiện – Mỹ mà các thành viên trong gia đình cùng hoạt động, sáng tạo, tiếp nhận, thấm sâu để tổ chức đời sống và điều tiết các mối quan hệ trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, vừa chịu sự tác động của xã hội, vừa tác động lại xã hội. Điểm khác biệt căn bản là: Văn hóa gia đình là thuộc tính khách quan, nội dung giá trị cốt lõi của mọi gia đình; trong khi Gia đình văn hóa là danh hiệu thi đua xã hội biểu thị chất lượng gia đình, được Nhà nước và cộng đồng công nhận, khen thưởng khi gia đình đạt được các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể theo quy ước của từng thời kỳ.

2. Hồ Chí Minh xác định vị trí của gia đình đối với xã hội và chiến lược cách mạng như thế nào? Trả lời: Hồ Chí Minh xác định "gia đình là hạt nhân của xã hội", "nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt". Trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc, Người nhấn mạnh: "Mọi gia đình đều đoàn kết cộng lại thành xã hội đại đoàn kết". Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, và tư tưởng đó phải được hình thành, bồi đắp từ chính hạt nhân gia đình.

3. Khảo sát thực nghiệm xã hội học của luận án được tiến hành với quy mô và phân bổ mẫu như thế nào? Trả lời: Khảo sát định lượng được thực hiện trên 600 phiếu hỏi phân bổ tại 6 tỉnh, thành phố đại diện 3 miền Bắc, Trung, Nam: Hà Nội, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận, Gia Lai. Tại mỗi tỉnh, khảo sát 2 huyện/thành phố, mỗi huyện 50 phiếu (100 phiếu/tỉnh), đại diện theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, học vấn và được xử lý bằng phần mềm SPSS. Ngoài ra, tác giả tiến hành 20 mẫu phỏng vấn sâu định tính.

4. Phong trào xây dựng Gia đình văn hóa ở Việt Nam đã trải qua những mốc tiêu chuẩn pháp lý chủ yếu nào được điểm lại trong luận án? Trả lời: Quá trình phát triển tiêu chuẩn Gia đình văn hóa gồm: 3 tiêu chuẩn năm 1962 (Bộ Văn hóa); 5 nội dung năm 1973; 3 tiêu chuẩn năm 1975 (Thông tư Liên bộ 35/TT); 4 tiêu chuẩn năm 1989/1991 (Thông tư 35/NSM); 4 tiêu chuẩn theo Quyết định 01/2002/QĐ-BVHTT; Quyết định 62/2006/QĐ-BVHTT; Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL (3 nhóm 11 tiêu chí); và Nghị định số 122/2018/NĐ-CP của Chính phủ (quy định chi tiết 3 nhóm với 24 tiêu chí công nhận và 07 nhóm trường hợp không xét tặng).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh? Trả lời: Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Nâng cao nhận thức; (2) Tổ chức xây dựng văn hóa gia đình; (3) Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; (4) Phát huy vai trò của chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và từ chính gia đình; (5) Công tác giám sát, kiểm tra, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm.

Kết luận

Luận án "Xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Thị Việt Hà là công trình khoa học chính trị nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về di sản tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa gia đình. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp luận mác-xít, phân tích văn bản học và dữ liệu điều tra xã hội học thực nghiệm tại 6 tỉnh thành, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng và chỉ ra 4 vấn đề cấp thiết đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Hệ thống 5 quan điểm chỉ đạo và 5 nhóm giải pháp được luận án đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững.