phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Mục lục, luận văn gồm 3 chƣơng, kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về cơ sở lý luận và địa bàn, đối tƣợng nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của ngƣời Dao thôn Nặm Đăm gắn với phát triển du lịch Cao nguyên đá Đồng Văn Chƣơng 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của ngƣời Dao thôn Nặm Đăm, gắn với phát triển du lịch Cao nguyên đá Đồng Văn. 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1.
Quản lý văn hóa Trong Đại từ điển Tiếng Việt, khái niệm “quản lý” đƣợc hiểu là việc tổ chức điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan, việc trông coi, gìn giữ việc gì. Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đƣa ra khái niệm cụ thể hơn: “Là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích đề ra” [44, tr. Để thực hiện công tác quản lý phải dựa vào các công cụ quản lý là các chính sách về pháp luật, chiến lƣợc phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trình nghiên cứu khoa học… nhằm đạt đƣợc các mục đích đã đề ra. Từ việc nghiên cứu những công trình trƣớc đó của nhiều tác giả khác nhau, tác giả luận văn cho rằng: Khái niệm “quản lý văn hóa” trong xã hội hiện đại đƣợc hiểu là công việc của Nhà nƣớc, đƣợc thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phƣơng và cả nƣớc.
Nhìn vào thực tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn đƣợc hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phƣơng pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân đƣợc trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt đƣợc mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lƣợng sống của ngƣời 12 dân. Quản lý văn hóa truyền thống Văn hoá truyền thống hay giá trị văn hoá truyền thống đƣợc hiểu nhƣ là văn hoá và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hoá, giá trị văn hoá thời đại công nghiệp hoá. Tất nhiên, khái niệm truyền thống (Tradition) để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và đƣợc trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không chỉ xã hội tiền công nghiệp mới có mà với cả xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì truyền thống vẫn hình thành và định hình. Hơn thế nữa, còn có sự kết nối giữa truyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hoá thể hiện trong từng hiện tƣợng hay giá trị văn hoá.
Văn hóa truyền thống Việt Nam là toàn bộ sáng tạo của con ngƣời tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội đƣợc đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua hệ ứng xử văn hóa cộng đồng ngƣời. Chúng ta tự hào về nền văn hóa Việt Nam đang đƣợc bồi đắp ngày càng rạng rỡ bằng trí tuệ, tâm hồn biết bao thế hệ, tự hào về truyền thống yêu nƣớc nồng nàn, ý chí bất khuất, quật cƣờng, tinh thần cao cả, tình nghĩa nhân hậu, thủy chung, luôn hƣớng tới chân, thiện, mỹ. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh đƣợc mạch sống lƣu truyền đó. Quản lý văn hóa truyền thống phải quán triệt đƣợc vai trò của văn hóa, làm cho các nhân tố văn hóa gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phƣơng diện.
Nền văn hóa chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tiên tiến về mặt tƣ tƣởng có nghĩa là lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm cốt lõi, nhằm mục tiêu tất cả vì con ngƣời, trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, tự nhiên và xã hội. Tiên tiến về hình thức biểu hiện là dùng các phƣơng diện chuyển tải 13 nội dung hiện đại, tiến bộ. Bản sắc văn hóa bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đƣợc vun đắp trong suốt bề dày lịch sử dân tộc.
Những năm qua, dƣới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý, chỉ đạo, điều hành khoa học, chặt chẽ của Nhà nƣớc cùng với sự tích cực tham gia của toàn dân, việc quản lý các giá trị văn hóa truyền thống đã đạt nhiều thành tựu đáng kể, văn hóa đã và đang thể hiện rõ nét “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội”. Quản lý văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch Hiện nay, du lịch đƣợc xem là ngành kinh tế không khói quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Du lịch trở nên phổ biến và là nhu cầu không thể thiếu của con ngƣời khi đời sống tinh thần của họ ngày càng phong phú. Với lịch sử hàng ngàn năm văn hiến, nƣớc ta có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú đậm đà bản sắc dân tộc, cùng với nguồn du lịch tự nhiên đa dạng, với nhiều cảnh đẹp, là nền tảng cho sự phát triển du lịch và có giá trị cao đối với việc thu hút du khách đến tham quan, tìm hiểu.
Trong những năm gần đây, luồng đầu tƣ vào du lịch không ngừng tăng, doanh thu mà ngành này mang lại tăng nhanh đáng kể. Tuy nhiên cùng với sự phát triển chóng mặt của du lịch tại Việt Nam đã tạo nên những tác động tích cực và tiêu cực đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, di sản văn hóa. Về mặt tích cực, du lịch góp phần lớn vào việc giới thiệu các nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới. Nguồn doanh thu đến từ du lịch cũng hỗ trợ việc bảo tồn các di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ đang có nguy cơ chuyển hóa thành phế tích, nguy cơ bị hủy hoại, nhất là trong điều kiện khí hậu thất thƣờng nhƣ nƣớc ta.
Sự phát triển du lịch góp phần củng cố, nâng cao truyền thống, lòng tự hào dân tộc, tính tự trọng, tự tôn dân tộc, thúc đẩy 14 việc giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo tốn tính đa dạng văn hóa. Du lịch thúc đẩy quá trình giao lƣu văn hóa giữa các dân tộc thông qua việc thu hút khách du lịch tham gia các lễ hội truyền thống, triển lãm văn hóa, ẩm thực … Về mặt tiêu cực, đối với các di sản văn hóa phi vật thể, sự phát triển du lịch ồ ạt chạy theo số lƣợng thƣờng gây ra sự bào mòn, hƣ hại các công trình, các di tích. Sự có mặt của quá đông du khách du lịch tại một điểm di tích tạo nên những tác động cơ học, hóa học, cùng với yếu tố thời tiết gây nên sự xuống cấp, phá hủy những công trình kiến trúc cổ. Sự phát triển du lịch thƣờng kèm theo sự du nhập văn hóa ngoại lai, do vậy, có thể làm xói mòn hoặc mất đi bản sắc văn hóa địa phƣơng, bản sắc văn hóa dân tộc.
Một số ứng xử của khách du lịch có thể làm ảnh hƣởng đến thuần phong mỹ tục của dân cƣ địa phƣơng. Hiện nay, văn hóa truyền thống nói chung và văn hóa truyền thống trên địa bàn Hà Giang nói riêng đang ngày càng đƣợc quan tâm xây dựng, bảo tồn và phát huy; tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở tính địa phƣơng. Khách du lịch đến Hà Giang chủ yếu tham quan di tích lịch sử-văn hóa và trải nghiệm cuộc sống cộng đồng chứ ít có lễ hội về văn hóa mang tầm cỡ đƣợc tổ chức để gắn với phục vụ du lịch. Vì vậy, cần phải quan tâm tập trung cho việc đầu tƣ vào việc phát triển di sản văn hóa vốn có, chọn lọc một số di sản văn hóa đặc sắc, ấn tƣợng, từ đó xây dựng thành sản phẩm chính và đƣa ra chiến lƣợc xúc tiến, quảng bá phù hợp để duy trì, phát huy tốt bản sắc di sản, kết hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian.
để thu hút du khách. Phát triển du lịch cộng đồng ở Hà Giang gắn liền với lễ hội di sản văn hóa sẽ khai thác những lợi thế vốn có của địa phƣơng. Nhƣng không phải di sản văn hóa nào cũng có thể khai thác du lịch đƣợc mà phải có bƣớc 15 khảo sát, lựa chọn thích hợp để tổ chức đạt hiệu quả. Di sản văn hoá truyền thống thƣờng sẽ diễn ra theo nghi thức đã đƣợc gìn giữ, duy trì qua nhiều thế hệ; theo thời gian, xu thế phát triển xã hội nó sẽ bị mai một hoặc tồn tại và phát triển để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng địa phƣơng cũng nhƣ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của du khách.
Tổ chức phát triển các di sản văn hóa truyền thống hiệu quả, để lại ấn tƣợng sâu sắc không chỉ bảo tồn văn hoá, bản sắc văn hóa vùng miền, phát triển du lịch bền vững mà còn kích thích sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phƣơng, mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách và nhân dân địa phƣơng từ các hoạt động dịch vụ kèm theo nhƣ: lƣu trú, ăn uống, vận chuyển, bán hàng lƣu niệm… Khai thác tiềm năng của di sản văn hoá truyền thống sẽ làm phong phú, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng tính hấp dẫn du khách, tham gia hoạt động của các loại hình du lịch nhƣ du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng ở Hà Giang. Khái quát về Cao nguyên đá Đồng Văn Trong Hội thảo khoa học và Diễn đàn đầu tƣ "Vì Hà Giang phát triển” năm 2010, bài viết Thu hút các nguồn vốn để phát triển tỉnh Hà Giang của tác giả Nguyễn Hồng Sơn có nêu: Cao nguyên đá Đồng Văn là Cao nguyên đá hùng vĩ nhất Việt Nam nằm ở vùng núi cao phía Bắc của tỉnh Hà Giang có diện tích 2.356km2 trải rộng trên 4 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang gồm Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc.