Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH TRẺ EM 1. Khái niệm văn hóa Mỗi một thời kỳ, mỗi một lĩnh vực hay mỗi nhà nghiên cứu do cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách giải thích khác nhau về văn hóa. Ngày nay trên thế giới có trên hàng nghìn định nghĩa khác nhau về văn hóa. Từ văn hóa (tiếng La Tinh Cultura có nghĩa là cầy cấy, vun trồng, làm ruộng, chăm bón, cải thiện) bắt nguồn từ những từ Latinh Colo, Colere (gieo trồng, vỡ đất, làm nông nghiệp), Cultus (đã cầy cấy, được vun trồng) khởi đầu có nghĩa là vỡ đất, chăm bón đất đại lao động nông nghiệp.
Hai từ kết hợp lại thành từ văn hóa với hàm nghĩa: Dùng thể chế hợp lòng người lễ nhạc, văn chương, sách vở ghi lời hay ý đẹp, gương sáng đạo đức hiền tài… để cảm hóa dân chúng (đối lập với việc dùng vũ lực, cưỡng bức để chế ngự dân chúng). Dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì bản thân từ văn hóa có liên quan đến lao động, đến hoạt động tích cực cải tạo của con người. Về sau từ này chuyển nghĩa nó về tính ca hát, khai trí, có tính chất giáo dục, có học vấn của bản thân con người. Khác với thiên nhiên nảy sinh một cách tự nhiên, lĩnh vực văn hóa là một lĩnh vực hoạt động thực tiễn được hình thành trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội, nó là “Thiên nhiên thứ hai”.
Bước vào thế kỷ XX, thuật ngữ văn hóa dần dần thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc, đồng thời nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn. Có thể thấy rằng, trong giao dịch thường ngày và cả trên báo chí ít thấy khái niệm nào mà sắc thái ý nghĩa lại phong phú như từ văn hóa. Chẳng hạn người ta nói văn hóa tình 10 cảm, văn hóa giao tiếp, văn hóa phê bình, văn hóa tranh luận, văn hóa giao thông, văn hóa gia đình… nói về định nghĩa văn hóa thì con số đã không dừng lại ở hàng trăm bởi lẽ đây là một khái niệm hết sức rộng lớn nếu chỉ gói gọn vào một vài dòng thì khó có thể biểu đạt hết được. Văn hóa theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra, ở đâu có con người, có quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hóa.
Bản chất của văn hóa là có tính người và tính xã hội. Văn hóa là một thực thể sống của con người, người ta có thể nghe thấy, sờ thấy, cảm thấy bằng những cách khác nhau của một nền văn hóa, một thời đại văn hóa, một giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra. Dù văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phầm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích cuộc sống: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Theo UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc) thì văn hóa là “…một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những hệ thống tín ngưỡng…”.
Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng, có mặt và thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người. Vì thế có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về văn hóa. Trong quá trình 11 đi tìm định nghĩa và xác định nội hàm của văn hóa, đã có những tìm tòi khoa học có giá trị sâu sắc, tiếp sức nhau đạt tới những nhận thức ngày càng hoàn chỉnh hơn của con người, về một lĩnh vực rất độc đáo do chính con người và chỉ có con người sáng tạo nên, đó là văn hóa. Lao động sáng tạo là cuội nguồn, khởi điểm của văn hóa, nhưng sáng tạo phải hướng về các giá trị nhân bản, nhằm hoàn thiện con người thì mới trở thành văn hóa đích thực.
Có thể nêu một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là toàn bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người. Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lí và mọi hoạt động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy. Khái niệm gia đình Gia đình là một thiết chế xã hội hoàn toàn năng động, luôn vận động và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, với các hình thức khác nhau, cấu trúc khác nhau và thực hiện các chức năng khác nhau. Chính vì thế, cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về gia đình của các học giả trong và ngoài nước.
Từ thực tiễn xã hội phương Tây, nơi mà gia đình giải phóng cá nhân khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của công đồng, một số nhà xã hội học quan niệm gia đình là một nhóm người. J Locke coi “gia đình là một nhóm người được thống nhất với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc nhận con nuôi; tạo thành một hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội của riêng từng người 12 trong số họ: là chồng và vợ, là mẹ và và cha, là anh trai và em gái; tạo thành một nền văn hóa chung”. Kingley Davis định nghĩa gia đình “là một nhóm người mà quan hệ của họ với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi, và do đó, họ là họ hàng thân thích của nhau”. George Peter Murdock lại coi “gia đình là một nhóm xã hội có đặc điểm là cư trú chung, hợp tác và tái sản xuất về kinh tế.
Nó bao gồm người lớn thuộc cả hai thế giới, ít nhất hai người trong đó có mối quan hệ tình dục đã được tán thành về mặt xã hội, và một hoặc nhiều con, là con đẻ hoặc con nuôi, của những người lớn chung sống về mặt giới tính đó”. Ở Việt Nam, một định nghĩa về gia đình được nhiều nhà xã hội học thừa nhận: "Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm). Giữa họ là những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình".
Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8. Giải thích từ ngữ ): "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này;"…. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, nhưng theo tác giả định nghĩa của Lê Ngọc Văn trong cuốn “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”, do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2011 là định 13 nghĩa tương đối phù hợp với gia đình Việt Nam, nó thể hiện được cả các đặc trưng của gia đình Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Theo Lê Ngọc Văn : “Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung.” Vị trí, vai trò to lớn của gia đình đối với xã hội được thể hiện qua các chức năng cơ bản của gia đình: chức năng tái sản xuất con người, chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình, chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm – sinh lí, tình cảm và chức năng giáo dục.
các chức năng này được thực hiện trong sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau và có sự biến đổi phù hợp với từng nơi và từng giai đoạn lịch sử. Thông qua việc thực hiện các chức năng này mà gia đình tồn tại, phát triển, đồng thời tác động tới sự tiến bộ chung của toàn xã hội. Khái niệm văn hóa gia đình Nếu coi văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác thì văn hóa gia đình – một bộ phận không tách rời của văn hóa chung cũng sẽ bao gồm tất cả những gì làm cho gia đình của một cộng đồng này, xã hội này, dân tộc này, khu vực này với gia đình của các cộng đồng, xã hội, dân tộc, khu vực khác. Một dân tộc chỉ được coi là có một nền văn hóa riêng khi chứng minh được bản sắc văn hóa của mình.
Cũng như vậy khi nói đến văn hóa gia đình là phải chứng minh được bản sắc của nó. Những nét khu biệt, tính đặc thù hay bản sắc của gia đình là đối tượng nghiên cứu của văn hóa gia đình. Văn hóa gia đình nghiên cứu những dấu ấn để lại trong đời sống vật chất, tinh thần của gia đình được biểu hiện thông qua các mối quan hệ, cấu trúc, chức năng, sinh hoạt, đời sống tâm linh…của gia đình. Đó là những dấu ấn được duy trì qua lịch sử, trở thành truyền thống, ăn sâu vào tiềm thức, tâm lí, chi phối hành vi, cách 14 ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác.