Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Văn hóa du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế" do nghiên cứu sinh Võ Văn Thành thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lý Tùng Hiếu và PGS. Phan Huy Xu.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong khi các nghiên cứu về mối quan hệ giữa du lịch với kinh tế, sinh thái, cộng đồng hay du lịch văn hóa đã xuất hiện nhiều, lĩnh vực "văn hóa du lịch" lại chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng do tính chất phức tạp của nội hàm khái niệm. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu và giáo trình vẫn có sự nhầm lẫn giữa "du lịch văn hóa" (loại hình du lịch khai thác tài nguyên văn hóa) và "văn hóa du lịch" (hệ thống các chuẩn mực, nhận thức, tổ chức và hành vi ứng xử tương tác giữa các chủ thể tham gia hoạt động du lịch). Mặt khác, Thành phố Hồ Chí Minh tuy là trung tâm du lịch lớn nhất cả nước về lượng khách và doanh thu nhưng nhiều du khách quốc tế vẫn chỉ xem nơi đây là điểm trung chuyển. Một trong những nguyên nhân căn bản xuất phát từ những bất cập trong văn hóa ứng xử và văn hóa du lịch. Thực tiễn này đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu hệ thống nhằm củng cố cơ sở lý luận và giải quyết thực trạng văn hóa du lịch tại địa bàn.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định nhằm làm rõ cơ sở lý luận về văn hóa du lịch, phân tích thực trạng các thành tố văn hóa chủ nhà và văn hóa du khách trong mối quan hệ tương tác tại không gian du lịch đô thị, từ đó đề xuất các giải pháp kiến tạo văn hóa du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững. Luận án giải quyết các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Cơ sở lý luận và khung phân tích nào phù hợp để nhận diện bản chất của văn hóa du lịch tại một điểm đến đô thị trong bối cảnh hội nhập quốc tế?
  2. Văn hóa chủ nhà và văn hóa du khách quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh có những đặc trưng nào cấu thành nên không gian văn hóa du lịch?
  3. Thực trạng văn hóa du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh đang diễn ra như thế nào trên các bình diện nhận thức, tổ chức và ứng xử giữa các chủ thể?
  4. Những nhóm giải pháp nào cần được thực hiện để kiến tạo văn hóa du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của thành phố?

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trọng tâm khảo sát là mối quan hệ tương tác giữa văn hóa chủ nhà và văn hóa du khách quốc tế.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại các quận trung tâm gồm Quận 1, Quận 3, Quận 5 (nơi diễn ra các hoạt động du lịch và tương tác dày đặc nhất) và huyện ngoại thành Củ Chi (khảo sát cụ thể tại Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn nghiên cứu trọng tâm từ năm 2011 đến năm 2022. Dữ liệu thống kê du khách tập trung phân tích từ năm 2011 đến năm 2019 và một phần năm 2020 (trước khi ngành du lịch bị gián đoạn bởi đại dịch COVID-19).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến văn hóa du lịch, chia thành hai nhóm tư liệu chính:

Nhóm nghiên cứu Các tác giả, công trình tiêu biểu và năm công bố Hướng tiếp cận chính
Nghiên cứu quốc tế - Jafar Jafari (1987, 2000)
- Gareth Shaw & Allan M. Williams (1992)
- Martin Frohlic (1993)
- Priscilla Boniface (1998)
- Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình & cs (2000)
- Can-Seng Ooi (2002)
- Yvette Reisinger & Lindsay Turner (2003)
- Yanjun Xie & Jufeng Xu (2004)
- David Harrison & Peter Lugosi (2013)
- Ma Yong & Su Hongxia (2015)
- Brendan Canavan (2016)
- Chen Hui-Ying (2018), Xia Liu (2018), Zhu Aifang (2020), Lili Zhai (2021), Sharipova S (2021), Ye Tang (2021), Yang Feiyue (2021)
Tiếp cận từ sự va chạm/gặp gỡ văn hóa; xem văn hóa du lịch là dạng thức cộng sinh, lai ghép; tiếp cận văn hóa sống; tiếp cận không gian giao tiếp thứ ba và chiều kích hiếu khách; tiếp cận khung tương tác chủ - khách hướng đến tính bền vững; tiếp cận kiến tạo hệ thống văn hóa du lịch dựa trên công nghệ và dịch thuật quảng bá.
Nghiên cứu trong nước - Thu Trang (1995)
- Trần Nhoãn (2002)
- Trần Thúy Anh (2004, 2010)
- Lê Thị Vân & cs (2004, 2006)
- Bùi Thanh Thủy (2009)
- Trần Diễm Thúy (2010)
- Nguyễn Thị Lõn (2011)
- Nguyễn Văn Bốn (2012)
- Dương Văn Sáu (2013, 2017, 2019)
- Nguyễn Thị Thu (2014)
- Lê Thị Hải Lý (2015)
- Hoàng Văn Thành (2014)
- Quế Hương (2016)
- Tạ Duy Linh (2016)
- Nguyễn Phạm Hùng (2017)
- Nguyễn Văn Lưu (2018)
Khai thác giá trị văn hóa phục vụ du lịch; phân tích ứng xử văn hóa của người Việt trong du lịch; nhìn nhận văn hóa du lịch như văn hóa nghề nghiệp; xác định các vai trò của văn hóa du lịch đối với phát triển bền vững; khảo sát bước đầu chuỗi ứng xử giữa các thành tố tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua việc phân tích tổng quan tài liệu, tác giả xác định bốn khuynh hướng tiếp cận chính về văn hóa du lịch trên thế giới: (1) Tiếp cận giá trị, (2) Tiếp cận ứng xử, (3) Tiếp cận kết hợp giữa giá trị và ứng xử, và (4) Tiếp cận kiến tạo.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đây hoặc chỉ tập trung khai thác tài nguyên văn hóa để xây dựng sản phẩm (thiên về du lịch văn hóa), hoặc chỉ dừng lại ở việc phê phán các hành vi ứng xử tiêu cực đơn lẻ. Chưa có công trình nào xây dựng một khung lý thuyết hoàn chỉnh về văn hóa du lịch mang tính liên ngành, đặt trong mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa văn hóa chủ nhà (chính quyền, cộng đồng, doanh nghiệp) và văn hóa du khách quốc tế trong bối cảnh hội nhập, cũng như áp dụng cụ thể vào không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh theo quan điểm kiến tạo xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên sự kết hợp các khái niệm, lý thuyết văn hóa học và du lịch học:

  • Khái niệm văn hóa: Sử dụng định nghĩa văn hóa theo bản sắc xã hội và dân tộc của UNESCO (2001), phân loại văn hóa vật thể và phi vật thể theo Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể của UNESCO (2003).
  • Khái niệm "Văn hóa sống" và "Di sản văn hóa sống" (Living culture / Living heritage) của Can-Seng Ooi (2002): Tiếp cận văn hóa địa phương qua lối sống hiện sinh thường nhật của cư dân, kết hợp với các giá trị truyền thống để tạo nên trải nghiệm văn hóa.
  • Khung lý thuyết văn hóa du lịch của Brendan Canavan (2016): Xem văn hóa du lịch là kết quả tương tác, trao đổi, biến đổi và đồng sáng tạo giữa văn hóa chủ nhà và văn hóa du khách trong bối cảnh vòng đời điểm đến nhằm hướng tới phát triển bền vững.
  • Lý thuyết về không gian giao tiếp thứ ba và chiều kích hiếu khách của David Harrison & Peter Lugosi (2013).
  • Thuyết kiến tạo xã hội (Social Constructivism) trong nghiên cứu khám phá (Eisenhardt & Graebner, 2007; Mills, Bonner & Francis, 2006; Thornberg, 2012).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả áp dụng cách tiếp cận liên ngành và cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc cùng các phương pháp cụ thể:

  1. Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Đặt văn hóa du lịch trong một chỉnh thể gồm 4 tác nhân tương tác (du khách, cộng đồng địa phương, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cơ quan quản lý nhà nước) vận hành qua 3 bình diện: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử.
  2. Phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn bán cấu trúc: Tiến hành thu thập ý kiến từ cán bộ quản lý thuộc Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia văn hóa, giảng viên du lịch, hướng dẫn viên, trưởng đoàn khách quốc tế, du khách nước ngoài và người dân địa phương mưu sinh gắn với hoạt động du lịch.
  3. Phương pháp Dân tộc học điện tử (Netnography): Tiếp cận, thu thập và phân tích các bài đánh giá, thảo luận công khai của du khách quốc tế trên diễn đàn du lịch trực tuyến TripAdvisor giai đoạn 2015 - 2020 đối với hai điểm đến tiêu biểu là Dinh Độc Lập và Địa đạo Củ Chi.
  4. Phương pháp phân tích mô hình PESTLE mở rộng: Đánh giá các yếu tố Chính trị (P), Kinh tế (E), Xã hội (S), Công nghệ (T), Pháp lý (L), Môi trường (E) tác động đến dịch vụ và sản phẩm du lịch tại hai mốc thời gian 2011 và giai đoạn khảo sát.
  5. Phương pháp quan sát tham dự và điều tra thực địa: Ghi nhận thực tế tại các tuyến điểm thuộc Quận 1, Quận 3, Quận 5 và huyện Củ Chi.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm:

  • Tư liệu sơ cấp: Dữ liệu ghi âm, xả băng từ các cuộc phỏng vấn sâu; dữ liệu quan sát thực địa; dữ liệu đánh giá trực tuyến từ TripAdvisor (2015 - 2020).
  • Tư liệu thứ cấp: Số liệu thống kê du khách từ Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 2011 - 2020); các báo cáo quy hoạch, văn bản pháp quy, tài liệu của Roland Berger (2019b) và hệ thống sách báo, tạp chí khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và bối cảnh địa bàn nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung khái niệm và phân tích bối cảnh địa bàn nghiên cứu. Tác giả phân định ranh giới học thuật giữa "văn hóa du lịch" và "du lịch văn hóa", đồng thời phân tích các khái niệm văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, văn hóa sống, toàn cầu hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa và phát triển du lịch bền vững. Luận án kế thừa và phát triển khung lý thuyết của Brendan Canavan (2016), kết hợp các yếu tố đặc thù của điểm đến đô thị để xây dựng khung lý thuyết riêng cho luận án. Về bối cảnh địa bàn, chương này phân tích các điều kiện tự nhiên, tiến trình lịch sử văn hóa và đặc điểm tính cách, lối sống cởi mở, năng động, dung hợp của cư dân Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó làm rõ nền tảng hình thành không gian văn hóa du lịch của thành phố.

Chương 2: Văn hóa chủ nhà và văn hóa du khách ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 đi sâu phân tích hai chủ thể cốt lõi trong tương tác du lịch:

  • Văn hóa chủ nhà: Được khảo sát qua các thành tố văn hóa phi vật thể (lối sống đô thị, ẩm thực, nghệ thuật diễn xướng, lễ hội) và văn hóa tổ chức, quản lý, kinh doanh du lịch của các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành, lưu trú trên địa bàn.
  • Văn hóa du khách: Phân tích cơ cấu khách quốc tế đến thành phố giai đoạn 2011 - 2020 dựa trên số liệu của Sở Du lịch. Luận án phân nhóm và phân tích đặc điểm tôn giáo, văn hóa, lối sống, phong cách trải nghiệm và văn hóa tiêu dùng của bốn thị trường gửi khách tiêu biểu nhất đến thành phố, qua đó chỉ ra sự đa dạng về nhu cầu và hành vi của du khách khi tiếp xúc với văn hóa bản địa.

Chương 3: Hiện trạng văn hóa du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về thực trạng văn hóa du lịch tại thành phố qua ba khía cạnh:

  1. Nhận thức: Đánh giá nhận thức của du khách về môi trường du lịch và người dân địa phương; ngược lại, nhận diện nhận thức, thái độ của cộng đồng địa phương đối với khách quốc tế.
  2. Tổ chức: Vận dụng mô hình PESTLE mở rộng và tiếp cận du lịch tổng thể để đánh giá quá trình đổi mới, tổ chức các sản phẩm và dịch vụ du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  3. Ứng xử và tương tác: Khảo sát chi tiết mối quan hệ ứng xử giữa chính quyền, cộng đồng địa phương, nhà cung ứng dịch vụ với du khách; phân tích các biểu hiện của hiện tượng sốc văn hóa. Đặc biệt, chương này sử dụng phương pháp Netnography để phân tích trường hợp tương tác thực tế qua các đánh giá tích cực và trái chiều của du khách quốc tế trên trang TripAdvisor (2015 - 2020) tại hai điểm tham quan trọng điểm: Dinh Độc Lập và Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi.

Chương 4: Kiến tạo văn hóa du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp mang tính cấu trúc nhằm kiến tạo và hoàn thiện văn hóa du lịch cho thành phố:

  • Nhóm giải pháp về văn hóa tổ chức - quản lý: Nâng cao năng lực quản lý của chính quyền địa phương; giáo dục, tập huấn văn hóa ứng xử cho cộng đồng cư dân; xây dựng môi trường du lịch an toàn, giải quyết vấn đề trật tự giao thông; đổi mới công tác quảng bá, xúc tiến du lịch; chuẩn hóa nghiệp vụ phục vụ trong môi trường hội nhập; ứng dụng công nghệ mạng lưới máy tính và chuyển đổi số trong quản lý điểm đến.
  • Nhóm giải pháp kiến tạo không gian và sản phẩm du lịch: Tổ chức các không gian văn hóa sống giúp du khách thâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng; phát triển hệ thống sản phẩm du lịch dựa trên tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể gồm: du lịch di sản văn hóa, du lịch đường sông và đường biển, du lịch ẩm thực, du lịch chăm sóc sức khỏe và các sản phẩm du lịch đặc thù gia tăng trải nghiệm cho khách quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã tổng hợp, hệ thống hóa và phân định rõ ràng nội hàm khoa học của khái niệm "văn hóa du lịch", khắc phục sự đồng nhất khái niệm này với "du lịch văn hóa" trong nghiên cứu văn hóa học và du lịch học tại Việt Nam. Công trình vận dụng thành công khung lý thuyết tương tác chủ - khách của Brendan Canavan và lý thuyết văn hóa sống của Can-Seng Ooi vào việc phân tích một điểm đến đô thị đang trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể về thực trạng nhận thức, tổ chức và ứng xử trong hoạt động du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến năm 2022. Phương pháp nghiên cứu Netnography kết hợp với phân tích mô hình PESTLE mở rộng đã phản ánh khách quan những điểm mạnh cũng như các xung đột, bất cập trong ứng xử du lịch tại các điểm di tích lịch sử trọng điểm (Dinh Độc Lập, Địa đạo Củ Chi).

Về giải pháp đề xuất, luận án xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc nâng cao văn hóa quản lý, chuẩn hóa quy tắc ứng xử cộng đồng, ứng dụng công nghệ thông tin và kiến tạo các chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa sống, du lịch đường sông, ẩm thực và chăm sóc sức khỏe, tạo cơ sở cho định hướng phát triển du lịch bền vững của thành phố.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án có một số hạn chế do tác giả tự xác định từ phạm vi nghiên cứu:

  • Dữ liệu nghiên cứu bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn của đại dịch COVID-19 (cuối tháng 3/2020 đến hết năm 2021 khiến lượng khách quốc tế giảm sút hoàn toàn; từ tháng 3/2022 bắt đầu phục hồi ở mức độ thấp), do đó chuỗi số liệu thống kê du khách liên tục chỉ phản ánh trọn vẹn giai đoạn 2011 - 2019.
  • Về phạm vi không gian, khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu chủ yếu tập trung tại các quận trung tâm (Quận 1, 3, 5) và huyện Củ Chi, chưa bao quát toàn bộ các quận, huyện ngoại thành khác của thành phố.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo dõi sự phục hồi và chuyển biến trong văn hóa du lịch của thành phố ở giai đoạn hậu đại dịch COVID-19, đồng thời mở rộng khảo sát tương tác văn hóa tại các địa bàn ven đô và các không gian du lịch sinh thái mới.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Du lịch học, Xã hội học: Tham khảo khung lý thuyết văn hóa du lịch, phương pháp luận nghiên cứu liên ngành và quy trình ứng dụng phương pháp Dân tộc học điện tử (Netnography).
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân các cấp): Tham khảo căn cứ thực tiễn để xây dựng, hoàn thiện các bộ quy tắc ứng xử du lịch, chính sách quản lý môi trường du lịch đô thị và chiến lược quảng bá hình ảnh điểm đến.
  • Doanh nghiệp lữ hành, lưu trú và các đơn vị cung cấp dịch vụ: Tham khảo dữ liệu về đặc điểm văn hóa, tâm lý tiêu dùng của bốn nhóm thị trường khách quốc tế trọng điểm để thiết kế sản phẩm và đào tạo nghiệp vụ ứng xử cho nhân viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung lý thuyết của Brendan Canavan (2016) được luận án kế thừa và vận dụng vào nghiên cứu như thế nào?
Luận án kế thừa luận điểm cốt lõi của Canavan: văn hóa du lịch không phải là một thực thể tĩnh mà là kết quả tương tác, thích ứng, trao đổi và đồng sáng tạo giữa văn hóa chủ nhà và văn hóa du khách trong bối cảnh vòng đời điểm đến. Luận án vận dụng mô hình này để phân tích tương tác giữa cư dân, chính quyền, doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh với du khách quốc tế nhằm hướng tới phát triển bền vững.

2. Luận án phân biệt khái niệm "Văn hóa du lịch" và "Du lịch văn hóa" như thế nào?
"Du lịch văn hóa" là một loại hình du lịch lấy tài nguyên văn hóa (di tích, lễ hội, phong tục) làm đối tượng tham quan, hưởng thụ của du khách. Trong khi đó, "Văn hóa du lịch" là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương thức tổ chức quản lý và chuỗi hành vi ứng xử tương tác giữa các chủ thể (du khách, nhà cung ứng dịch vụ, cộng đồng địa phương, cơ quan quản lý) nảy sinh trong suốt quá trình hoạt động du lịch.

3. Phương pháp Dân tộc học điện tử (Netnography) được triển khai tại những điểm đến nào trong luận án?
Phương pháp Netnography được tác giả sử dụng để thu thập và phân tích các bài đánh giá, phản hồi trực tuyến của khách du lịch quốc tế trên diễn đàn TripAdvisor trong giai đoạn 2015 - 2020 tại hai điểm tham quan tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh là Dinh Độc Lập và Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi.

4. Vì sao mốc thời gian nghiên cứu của luận án lại chọn từ năm 2011?
Năm 2011 đánh dấu giai đoạn ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam bước vào chu kỳ tăng trưởng ổn định, liên tục kéo dài gần 10 năm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng sau khi gia nhập WTO (2006), trước khi chịu tác động làm ngưng trệ hoạt động của đại dịch COVID-19 vào đầu năm 2020.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Văn Thành là công trình nghiên cứu hệ thống về văn hóa du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học kết hợp Du lịch học. Bằng việc kết hợp phương pháp hệ thống - cấu trúc, phỏng vấn sâu và Dân tộc học điện tử, tác giả đã làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác đa chiều giữa văn hóa chủ nhà và văn hóa du khách quốc tế trong bối cảnh hội nhập. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp kiến tạo văn hóa du lịch được đề xuất đóng góp nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn phục vụ cho chiến lược phát triển du lịch bền vững tại đô thị trung tâm kinh tế - văn hóa phía Nam.