đặt vấn đề: có cần nghiên cứu để theo dõi và xem xét liệu văn hóa du lịch có tồn tại như một thực thể hay không?; Các chức năng được quy cho nó có thay đổi hay vẫn ổn định?; Liệu vị trí mà nó chiếm giữ có lợi hay có hại đối với sự phát triển của một nền du lịch hài hòa? (tr. Tiếp đến, Encyclopedia of Tourism (Bách khoa toàn thư về Du lịch), một công trình nghiên cứu đồ sộ, tập hợp 352 nhà nghiên cứu về Du lịch học thuộc 51 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới do học giả Jafar Jafari (2000) làm tổng biên tập. Công trình này có một số thuật ngữ về du lịch mà chúng tôi quan tâm trong đó có “du lịch văn hóa” và “văn hóa du lịch”. Thuật ngữ văn hóa du lịch trong công trình này được diễn giải khá chi tiết (tr.129- 130), trong đó có 3 câu nêu trọng tâm khái niệm văn hóa du lịch.
Theo công trình này, văn hóa du lịch vẫn còn là một “khái niệm mơ hồ” (vague concept) dùng để diễn tả những hành vi và các thể chế có thể quan sát được tại các điểm đến (những quy định, nội quy, quy tắc ứng xử tại các điểm đến). Những hành vi (thiên về ứng xử) mà các bên có liên quan trong hoạt động du lịch tại các điểm đến phải tuân theo và chính tình hình này làm cho văn hóa du lịch tại mỗi điểm đến không hoàn toàn giống nhau. Nhóm tác giả công trình Encyclopedia of Tourism xem “Văn hóa du lịch là một dạng thức cộng sinh hay lai ghép (symbiotic or hybrid form) không có khả năng tự duy trì chính nó” (tr. Nói cụ thể hơn, khi một điểm đến nào đó không còn tồn tại nữa thì văn hóa du lịch ở nơi đó cũng biến mất hoặc trở nên mờ nhạt chẳng hạn như thảm họa chiến tranh xảy ra, di dân đến vùng đất khác, tài nguyên du lịch biến mất thì du khách sẽ không du lịch đến điểm đến đó nữa.
Đại dịch COVID-19 từ năm 2020 đến nay là một minh chứng cho văn hóa du lịch tại các điểm đến bị mờ nhạt do không có khách du lịch đến thăm. Luận điểm về văn hóa du lịch này đã được Brendan Canavan (2016) nghiên cứu và mở rộng thêm. 9 Thêm vào đó, các tác giả nước ngoài đề cập đến văn hóa du lịch chỉ xuất hiện từ khi có ngành du lịch hiện đại. Nguồn gốc chính thức của các dạng thức văn hóa mới, từ các nền văn hóa bản địa của nước sở tại cho đến các nền văn hóa được du nhập của du khách ít nhiều có những cái mới xuất hiện tại điểm tiếp xúc/tương tác.
Hai là, sự liên quan đến người xem trong việc kiến tạo ra văn hóa mới, hoặc là khách du lịch hay chủ nhà (hoặc là cả hai). Văn hóa du lịch là sản phẩm văn hóa biến đổi của văn hóa dân cư nước sở tại trong việc tìm cách đáp ứng nhu cầu du khách. Văn hóa du lịch bao gồm những lực lượng sáng tạo lai ghép nhưng lại được duy trì ở một số nền văn hóa, đồng thời thúc đẩy việc trao đổi chéo và các hình thức mới lạ ở những nền văn hóa khác (Jafar Jafari (cb), 2000:130-131). Nói tóm lại, theo các tác giả Encyclopedia of Tourism, văn hóa du lịch (cho đến thời điểm năm 2000) vẫn là một khái niệm mờ (a vague concept) và nó chỉ phát sinh khi có sự giao lưu, tiếp xúc giữa du khách và cộng đồng dân cư các nước sở tại trong quá trình phục vụ khách du lịch.
Về nội hàm của nó, các tác giả vẫn chưa xác định được rõ ràng. Tiếp đến, công trình Du lịch học khái niệm do Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình chủ biên, được dịch sang tiếng Việt (năm 2001) với nhan đề Kinh tế du lịch và Du lịch học. Đây là một công trình viết về du lịch học bao quát rất nhiều vấn đề du lịch và có một phần đề cập đến văn hóa du lịch. Các tác giả đã nêu mối liên hệ giữa văn hóa xã hội với du lịch và cho rằng, văn hóa du lịch có thể biểu đạt dưới ba dạng thức mà hiện nay (tức thời điểm năm 2000) các học giả trong và ngoài Trung Quốc chưa thống nhất như: (1) Văn hóa du lịch là tổng của cải vật chất và của cải tinh thần có liên quan đến du lịch; (2) Văn hóa du lịch là kết quả tác động lẫn nhau giữa du khách, tài nguyên du lịch với môi giới du lịch (ngành du lịch); (3) Văn hóa du lịch là một loại hình thái văn hóa của đời sống du lịch (tr.
Trong ba cách biểu đạt trên, đáng chú ý nhất là việc nhóm tác giả đề xuất văn hóa du lịch bao gồm 3 thành tố: du khách, tài nguyên du lịch và nhà môi giới du lịch. Cũng theo nhóm tác giả, nếu thiếu một trong ba yếu tố trên thì không thể có văn hóa du lịch: Ba yếu tố du lịch (chủ nhà, du khách và nhà môi giới du lịch) đều không thể đơn độc hình thành văn hóa du lịch. Nếu tách khỏi tài nguyên du lịch thì du khách sẽ mất đi đối 10 tượng tham quan thưởng thức, không có nhà môi giới du lịch thì thậm chí không tiến được một bước, không thể thực hiện được hoạt động du lịch, không có du lịch thì đương nhiên cũng không thể sinh ra văn hóa du lịch. Ngành du lịch chỉ là một loại ngành nghề xã hội nhằm mục đích quản lý du lịch, dịch vụ du lịch, mỗi khâu của nó đều phải thỏa mãn nhu cầu đặc thù của du khách, thể hiện loại đặc trưng nào đó của văn hóa du lịch.
Về điểm này, ngành du lịch ẩn chứa thành phần văn hóa du lịch, nhưng chỉ là thành phần chứ không phải là toàn bộ văn hóa du lịch. “Nếu không có du khách và tài nguyên du lịch thì ngành du lịch chỉ lập ra cho có cớ chứ đừng nói tới sản sinh ra văn hóa du lịch mới, ngay cả thành phần văn hóa du lịch vốn có cũng không thể thể hiện ra được” (Đổng Ngọc Minh & Vương Lôi Đình (cb), 2001:327-328). Hơn nữa, văn hóa du lịch còn là những tiếp xúc phát sinh trong quá trình hoạt động du lịch và nó góp phần điều chỉnh hành vi của các nhóm đối tượng trên khi tham gia vào hoạt động du lịch. Tác giả cho rằng, đây là đóng góp quý báu của nhóm tác giả người Trung Quốc về hướng tiếp cận đối với vấn đề văn hóa du lịch.
Tuy nhiên, nếu chỉ ba tác nhân như trên vẫn còn chưa đầy đủ trong việc hình thành văn hóa du lịch tại một địa phương/điểm đến cụ thể. Bên cạnh đó, công trình Cross - cultural behaviour in Tourism - Concepts and Analysis (Ứng xử xuyên văn hóa trong du lịch - Các khái niệm và phân tích) của hai học giả người Úc là Yvette Reisinger và Lindsay Turner (2003). Yvette Reisinger và Lindsay Turner (2003) bàn luận về các khái niệm có liên quan đến du khách, chủ nhà và văn hóa du lịch đã cho rằng “Văn hóa du lịch chính là văn hóa của du khách và văn hóa chủ nhà trộn lẫn với nhau hình thành nên một loại văn hóa đặc thù và khác biệt tại mỗi điểm đến” (tr. Theo hai tác giả trên, có hai nhóm đối tượng tương tác với nhau đó là văn hóa của du khách và văn hóa của chủ nhà hình thành nên văn hóa du lịch.
Đây là một luận điểm quan trọng hình thành nên văn hóa du lịch tại mỗi điểm đến, giúp ích cho việc nghiên cứu trường hợp văn hóa du lịch. Luận điểm này đã được Brendan Canavan (2016) kế thừa và có kết quả nghiên cứu sâu hơn. Về mặt lý thuyết, Can-Seng Ooi (2002) không trực tiếp bàn đến văn hóa du lịch. Tuy nhiên, ông xem văn hóa du lịch được biển hiện phần nào đó qua văn hóa sống của người dân tại các điểm đến.
Tác giả đã triển khai quan niệm văn hóa sống trong công trình nghiên cứu của mình mang hàm nghĩa rộng hơn và rất đáng quan tâm để vận dụng trong các nghiên cứu trường hợp tại các điểm đến nhằm thu hút du khách. Trong nghiên cứu của mình, Can-Seng Ooi (2002) đã cho thấy những thành tố văn hóa từ các nền văn 11 hóa đã được hình thành tại chỗ lâu đời (established cultures) và các nền văn hóa mới (new cultures) do du khách mang đến để hình thành nên cái gọi là “Wonderful Copenhagen” thu hút du khách tới Đan Mạch. Vì lẽ đó, “Wonderful Copenhagen” như một thương hiệu nhận diện văn hóa du lịch của Copenhagen nói riêng và Đan Mạch nói chung (Can-Seng Ooi, 2002:143). Tương tự, Singapore cũng dung nạp các thành tố từ các nền văn hóa hình thành tại chỗ lâu đời (established cultures) và các yếu tố từ các nền văn hóa mới của du khách mang đến cho Singapore đã hình thành nên thương hiệu nhận diện văn hóa du lịch của Singapore là “Surprising Singapore” và sau đó là “New Asia - Singapore” (Can-Seng Ooi, 2002:143).
Can-Seng Ooi cho thấy sự vận dụng và kết hợp văn hóa địa phương, văn hóa sống (mà có tác giả hiểu đó là “văn hóa hiện sinh”), lịch sử, hàng hóa tại địa phương mang dấu ấn sáng tạo văn hóa, nghệ thuật trình diễn v.v… để tạo ra sản phẩm du lịch cho du khách phần nào là văn hóa du lịch tại điểm đến. Tiếp theo, Yanjun Xie & Jufeng Xu (2004), công bố bài báo “Cultural tourism vs Tourist culture: case of domestic tourism in modern Beijing”. Bài viết tập trung bàn về mối quan hệ giữa du lịch văn hóa và văn hóa du khách. Theo hai tác giả, có thể hiểu du lịch văn hóa dễ dàng nhưng rõ ràng là nó khác với văn hóa du lịch do du khách mang đến (tr.
Tuy nhiên, hai tác giả trên cho rằng, một cách tiếp cận quan trọng đối với mối quan hệ tinh tế và nổi bật hơn giữa du lịch văn hóa và văn hóa du lịch nên dựa trên phân tích cả động cơ và kết quả. Có nghĩa là, văn hóa du lịch hầu hết là kết quả của quá trình sản xuất sản phẩm du lịch hoặc thích ứng để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch đối với các đối tượng và biểu hiện văn hóa. Theo Yanjun Xie & Jufeng Xu (2004), “du lịch văn hóa tạo ra động cơ cho du khách đến” (tr.84) và ngoài ra “văn hóa du lịch tác động lên sự phát triển của ngành du lịch” (tr. Luận điểm này có thể nhận ra và chứng minh được trong nhiều trường hợp phát triển du lịch hiện nay.
David Harrison & Peter Lugosi (2013) công bố bài báo “Tourism culture(s): The Hospitality dimension” (Văn hóa du lịch: chiều kích hiếu khách).