Chương I TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ 1. Toàn cầu hóa Toàn cầu hóa được định nghĩa bởi nhiều cách: - Trước hết đó là quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu, vượt ra khỏi phạm vi của bất cứ quốc gia nào. - Toàn cầu hóa là một xu hướng làm cho mối quan hệ xã hội trở nên ít bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ [11] - Toàn cầu hóa là những quan niệm có nhiều mặt và nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và các hậu quả của sự chi phối (Ban thư ký WTO) - Quá trình toàn cầu hóa sẽ làm cho các nước gia tăng sự phụ thuộc, tương trợ lẫn nhau mà trước hết là về mặt kinh tế, các luồng giao thương hàng hóa và quyền lực của mỗi nước sẽ vươn ra khỏi phạm vi một lãnh thổ để đến các nơi khác có ưu thế hơn, qua đó chúng sẽ được sử dụng hợp lý hơn. - Và cuối cùng, toàn cầu hóa đòi hỏi các nước phải luôn vận động phát triển vì các lợi thế của các quốc gia khác đã trở thành áp lực đối với quốc gia.
Nếu ta không nỗ lực sẽ dễ dàng bị đào thải, tụt hậu. Có thể hiểu toàn cầu hoa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: xác định toàn cầu hóa như một hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống xã hội (cả kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường, thể chế v.) giữa các quốc gia. Vì vậy, một số tác giả đưa ra định nghĩa: “Toàn cầu hóa xét về bản chất, là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên thế giới” [2 tr 43]. - 11 - Theo nghĩa hẹp: coi là khái niệm chỉ liên quan đến kinh tế, chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu, làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia.
Theo quan điểm này, các nhà kinh tế thuộc UNCTAD đưa ra định nghĩa: “Toàn cầu hóa liên hệ với các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia, cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó” [2 tr 50]. Hội nhập Cũng như toàn cầu hóa, hội nhập cũng có nhiều quan điểm khác nhau, song ta có thể xem hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên cấp độ đơn phương, song phương, đa phương. Từ thuật ngữ trên ta có thể hiểu được nội dung chủ yếu của quá trình này là: - Ký kết và tham gia vào các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế, cùng các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết đối với các thành viên của định chế, tổ chức đó. - Tiến hành các công việc thay đổi cần thiết để đảm bảo được mục tiêu của quá trình hội nhập cũng như phù hợp với các quy định của các định chế, tổ chức khi gia nhập.
Như phân tích trên, hội nhập kinh tế là một quá trình mở cửa dần của từng quốc gia, vì thế tùy thuộc vào việc mở cửa này và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức mà hình thành nên các cấp độ khác nhau. Hiện nay các nhà kinh tế thường đưa ra 5 cấp độ hội nhập kinh tế như sau: 1- Khu vự hóa mậu dịch tự do: Là giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập kinh tế. Ở giai đoạn này, các nền kinh tế thành viên tiến hành cắt giảm và loại bỏ dần các hàng rào thuế quan, các hạn chế định lượng và các biện pháp phi thuế quan trong thương mại nội khối. Tuy nhiên, họ vẫn độc lập thực hiện chính sách thuế quan đối với các nước ngoài khối.
Ví dụ: khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). - 12 - 2- Liên minh thuế quan: Đây là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình hội nhập. Tham gia vào liên minh thuế quan, các thành viên ngoài việc hoàn tất việc loại bỏ thuế quan và các hạn chế về số lượng trong thương mại nội khối, phải cùng nhau thực hiện một chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối. Ví dụ: nhóm ANDEAN và liên minh thuế quan giữa cộng đồng kinh tế Châu Âu, Phần Lan, Áo, Thụy Điển.
3- Thị trường chung: Là mô hình liên minh thuế quan cộng thêm với việc bãi bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác. Như vậy, trong một thị trường chung, không những hàng hóa, dịch vụ mà hầu hết các nguồn lực khác (vốn, kỹ thuật, công nghệ, nhân công,…) đều được tự do lưu chuyển giữa các thành viên. Ví dụ: cộng đồng kinh tế Châu Âu (EC) trước đây. 4- Liên minh kinh tế: Là mô hình hội nhập ở giai đoạn cao dựa trên cơ sở mô hình thị trường chung cộng thêm với việc phối hợp các chính sách kinh tế giữa các thành viên.
Ví dụ: liên minh Châu Âu (EC). 5- Liên minh toàn diện: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình hội nhập. Các thành viên thống nhất về chính trị và các lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, thuế và các chính sách xã hội. Như vậy, ở giai đoạn này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực được chuyển giao cho một cơ cấu cộng đồng.
Đây thực chất là một giai đoạn xây dựng một kiểu nhà nước liên bang hoặc các “cộng đồng an ninh đa nguyên” theo mô thức Deutsch. Ví dụ: quá trình thành lập Hoa Kỳ từ các thuộc địa cũ của Anh và thống nhất nước Đức từ các tiểu vương quốc trong liên minh thuế quan Đức - Phổ trước đây. WTO, vai trò và lợi ích từ WTO đối với các nước thành viên 1. WTO - Lịch sử hình thành và phát triển 1.
WTO là gì? WTO (World Trade Organization) được hiểu là tổ chức thương mại thế giới ra đời ngày 01/01/1995. Tuy chỉ mới ra đời được 11 năm, nhưng thực tế WTO đã có bề dày nửa thế kỷ. Chúng ta có thể hình dung về WTO với ba điều như sau: - WTO là diễn đàn đàm phán thương mại (Negotiating forum) - 13 - - WTO là nơi đề ra các quy tắc thương mại (Set of rules) - WTO giúp giải quyết các tranh chấp thương mại (Settle disputes) WTO được cấu thành từ các cấp: - Hội nghị cấp bộ trưởng (Ministerial Conference), thường họp 2 năm 1 lần. Đây là cơ quan có quyền ra quyết định cao nhất ở WTO.
Hội nghị cấp bộ trưởng sẽ thực hiện hành động cần thiết theo các chức năng. - Đại hội đồng (General Council), đây là bộ phận đại diện các nước thành viên. Đại hội đồng sẽ họp giữa các kỳ họp cấp bộ trưởng. - Hội đồng các cấp, đây là hội đồng về các lĩnh vực như: + Thương mại hàng hóa (Council for Trade in Goods) + Thương mại dịch vụ (Council for Trade in Services) + Sở hữu trí tuệ (Aspects of Intellectual Property Rights) - Các tiểu ban, đây là cấp túc trực thuộc đại hội đồng và các hội đồng.
Chẳng hạn hội đồng về thương mại hàng hóa có 11 tiểu ban như thực hiện chống bán phá giá, nông nghiệp, an toàn, … Mục tiêu của WTO: Thúc đẩy mậu dịch tự do, hoạt động thương mại công bằng, thông suốt và mở rộng hơn nữa thị trường thế giới. Gia nhập WTO Muốn gia nhập WTO, phải trải qua trình tự gồm 3 giai đoạn: nộp đơn, đàm phán gia nhập và kết nạp. Điều khác biệt là về thời gian và thỏa thuận đáp ứng yêu cầu từ các bên liên quan. Đàm phán gia nhập WTO cần phải qua 2 giai đoạn: 1.
Công khai hóa chính sách về cơ chế thương mại có liên quan đến hiệp định WTO. Trong quá trình nhóm công tác WTO xem xét, các thành viên còn lại sẽ có quyền đặt các câu hỏi mà họ quan tâm, liên quan đến lĩnh vực kinh tế. Đàm phán trải qua 2 tiến trình: đàm phán đa phương và song phương. Đàm phán đa phương thực chất là cuộc họp của nhóm công tác WTO với nước muốn gia nhập WTO, còn đàm phán song phương là đàm phán theo yêu cầu của các nước thành viên.
Cụ thể nước ta khi gia nhập WTO, có 28 nước yêu cầu đàm phán - 14 - song phương với ta. Trong đó có 3 nước ta đã có ký kết song phương từ trước, còn lại ta phải đàm phán với 25 nước trước khi nhóm công tác của WTO xét kết nạp nước ta. Vai trò của WTO và lợi ích từ WTO - Đây là tổ chức góp phần gìn giữ hòa bình. - Giải quyết các tranh chấp thương mại trong nội bộ WTO một cách xây dựng.
- WTO hành động theo pháp luật quốc tế, không dựa vào quyền lực. - Cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế quan. - Người tiêu dùng có nhiều cơ hội và quyền lựa chọn hơn. - Tăng thu nhập cho người dân và quốc gia.
- Giúp tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia thành viên. - Cắt giảm chi phí, hiệu quả kinh tế cao hơn. - Bảo vệ quyền lợi kinh tế của quốc gia thành viên. - Giúp định ra hệ thống chính sách kinh tế quốc tế hoàn thiện hơn.
Việt Nam gia nhập WTO - điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển kinh tế Trong trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế đang ở thời kỳ đầu của sự phát triển với nhu cầu vốn đầu tư rất lớn. Việc tham gia cùng sân chơi thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng,… một cách bình đẳng sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng đầu tư, thu hút vốn từ bên ngoài, cùng với vốn là kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm, tri thức về điều hành, quản trị kinh doanh, … để phát triển nền kinh tế. Việt Nam hiện nay là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), và diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM).