Tổng quan nghiên cứu

Năm 2006 ghi nhận bước chuyển mình lịch sử khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mở ra làn sóng hội nhập kinh tế sâu rộng với tổng doanh thu ngành du lịch cả nước đạt 51.000 tỷ đồng và đón hơn 3,585 triệu lượt khách quốc tế. Trong bối cảnh đó, tỉnh Lâm Đồng sở hữu thế mạnh tự nhiên nổi bật với thành phố Đà Lạt, khí hậu ôn đới quanh năm và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên độc đáo. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh thực tế của các doanh nghiệp du lịch địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Năm 2006, Lâm Đồng đón 1.848 nghìn lượt khách, nhưng lượng khách quốc tế chỉ đạt 97 nghìn lượt, chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 5,25%.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trong thời kỳ toàn cầu hóa, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2000 - 2006, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi đến năm 2020. Nghiên cứu tập trung vào đối tượng là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành, lưu trú và dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc đưa ra định hướng tái cấu trúc sản phẩm và thị trường nhằm nâng tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của tỉnh vượt mức 7,51% của năm 2006, đồng thời cải thiện thời gian lưu trú bình quân vốn chỉ dừng lại ở mức 2,3 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter làm nền tảng phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành du lịch Lâm Đồng thông qua 4 yếu tố tương hỗ: các điều kiện về yếu tố sản xuất (tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực); điều kiện về cầu (quy mô, thị hiếu và sự thay đổi nhu cầu của du khách trong và ngoài nước); chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan (giao thông vận tải, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ thương mại).

Bên cạnh đó, tác giả tích hợp lý thuyết lợi thế cạnh tranh động của Michael Fairbanks, nhấn mạnh vai trò quyết định của vốn tri thức, năng lực đổi mới sáng tạo và trình độ của nguồn nhân lực thay vì phụ thuộc thuần túy vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có hay lao động giá rẻ. Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa bao gồm: năng lực cạnh tranh quốc gia theo chuẩn Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh doanh nghiệp du lịch, cùng 5 cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế từ Khu vực mậu dịch tự do (AFTA), Liên minh thuế quan, Thị trường chung, Liên minh kinh tế đến Liên minh toàn diện, gắn liền với các hiệp định thương mại đa phương như Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) và Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2000 - 2006 từ Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê, Sở Du lịch - Thương mại Lâm Đồng và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Về dữ liệu điều tra thực nghiệm, mẫu khảo sát bao gồm 696 khách du lịch quốc tế tại Lâm Đồng, nằm trong tổng thể mẫu nghiên cứu so sánh liên tỉnh gồm 8.195 du khách quốc tế tại 12 trung tâm du lịch trọng điểm của Việt Nam.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên các tiêu chí: quốc tịch, ngôn ngữ (tiếng Anh, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản), hình thức du lịch và loại hình cơ sở lưu trú nhằm đảm bảo tính đại diện cao. Tác giả lựa chọn phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp so sánh đối chiếu liên vùng, phân tích thống kê mô tả và tham vấn ý kiến chuyên gia. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm nhận diện khách quan sự tương quan giữa các biến số kinh tế vĩ mô sau khi gia nhập WTO với các chỉ số hiệu quả kinh doanh vi mô của doanh nghiệp địa phương, phản ánh chân thực năng lực cạnh tranh thực tế của du lịch Lâm Đồng so với các địa phương khác như Khánh Hòa, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu cơ sở lưu trú và hạ tầng dịch vụ của Lâm Đồng phát triển thiếu cân đối. Đến năm 2006, toàn tỉnh có 715 cơ sở lưu trú với 10.600 phòng, nhưng chỉ có 54 khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 5 sao (trong đó chỉ có 1 khách sạn 5 sao và 2 khách sạn 4 sao), còn lại 750 nhà nghỉ và cơ sở lưu trú tư nhân quy mô nhỏ lẻ. Công suất sử dụng phòng bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 55% năm 2005 và 56% năm 2006, cho thấy sự lãng phí tài sản cố định trong các mùa thấp điểm.

Thứ hai, đóng góp kinh tế của ngành du lịch chưa tương xứng với vị thế ngành mũi nhọn. Doanh thu xã hội từ du lịch tăng từ 355 tỷ đồng năm 2000 lên 1.663 tỷ đồng năm 2006. Tuy nhiên, giá trị gia tăng của du lịch trong GDP toàn tỉnh năm 2006 chỉ đạt 511,19 tỷ đồng, chiếm 7,51% GDP, thấp hơn rất nhiều so với nông - lâm - thủy sản (58,51%) và công nghiệp - xây dựng (21,11%).

Thứ ba, cơ cấu thị trường khách quốc tế còn nghèo nàn và mức chi tiêu bình quân thấp. Trong năm 2005, khách nói tiếng Anh chiếm tới 84,8% lượng khách quốc tế đến Lâm Đồng, tiếng Pháp chiếm 13,8%, trong khi khách nói tiếng Trung Quốc chỉ chiếm 0,1% và tiếng Nhật chỉ đạt 1,3%. Mức chi tiêu bình quân một ngày của khách quốc tế tại Lâm Đồng năm 2005 là 79,1 USD, thấp hơn đáng kể so với Quảng Nam (119,1 USD) và Thành phố Hồ Chí Minh (107,7 USD). Đáng chú ý, chi tiêu cho vui chơi giải trí tại Lâm Đồng chỉ đạt 3,1 USD/ngày (chiếm 3,9% tổng chi tiêu), trong khi con số này ở Quảng Nam là 42,4 USD và Thành phố Hồ Chí Minh là 22,5 USD.

Thứ tư, hiệu quả khai thác tài nguyên danh thắng còn thấp. Toàn tỉnh có 91 điểm du lịch và di tích lịch sử, trong đó 79 điểm có tiềm năng đầu tư nhưng thực tế mới chỉ đưa vào khai thác thương mại 25 khu điểm và 12 di tích, dẫn đến hiện tượng sản phẩm du lịch đơn điệu, trùng lặp và thiếu điểm nhấn văn hóa bản địa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ cơ cấu tổ chức doanh nghiệp còn manh mún, với 51% là doanh nghiệp tư nhân và trách nhiệm hữu hạn có quy mô vốn nhỏ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn. Doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần chiếm 47% nhưng tiến độ đổi mới quản trị còn chậm, chưa tạo ra các chuỗi dịch vụ khép kín. Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh bằng cách phá giá vào mùa thấp điểm và tăng giá quá mức vào mùa cao điểm đã làm xói mòn hình ảnh thương hiệu du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng.

Các phát hiện này có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ hình cột so sánh cơ cấu chi tiêu bình quân của du khách quốc tế giữa Lâm Đồng với 11 địa phương trọng điểm, và biểu đồ đường thể hiện mối tương quan giữa sự gia tăng số lượng phòng lưu trú với tốc độ tăng trưởng chậm của lượng khách quốc tế. Dù chỉ số đánh giá môi trường cảnh quan của Lâm Đồng đạt tỷ lệ rất cao với 78,0% du khách nhận xét sạch đẹp và 20,4% nhận xét bình thường, địa phương vẫn chưa tận dụng được lợi thế sinh thái này để kéo dài thời gian lưu trú vượt qua con số 2,3 ngày. Kết quả nghiên cứu đồng thuận với các phân tích kinh tế ngành khi chỉ ra rằng nếu thiếu sự đầu tư bài bản vào dịch vụ giải trí về đêm và hạ tầng giao thông kết nối, Lâm Đồng sẽ tiếp tục bị tụt lại trong cuộc đua thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào du lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch và nâng cấp hạ tầng du lịch chất lượng cao. Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng cùng Sở Du lịch - Thương mại cần rà soát lại quy hoạch tổng thể 79 điểm danh lam thắng cảnh, tập trung nguồn lực xây dựng khu du lịch quốc gia hồ Tuyền Lâm và Đankia - Suối Vàng. Mục tiêu đặt ra đến năm 2015 là nâng tỷ lệ buồng phòng đạt tiêu chuẩn từ 3 đến 5 sao lên mức 35% tổng cơ số phòng toàn tỉnh, đồng thời hoàn thành nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương thành sân bay quốc tế.

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù và phát triển kinh tế ban đêm. Các doanh nghiệp lữ hành và lưu trú cần phối hợp thiết kế các dòng sản phẩm du lịch sinh thái rừng núi cao cấp, du lịch nghỉ dưỡng kết hợp chữa bệnh, du lịch canh nông gắn với thương hiệu rau và hoa Đà Lạt, cùng các tour trải nghiệm không gian văn hóa cồng chiêng K'Ho. Đích đến giai đoạn 2008 - 2020 là kéo dài thời gian lưu trú bình quân từ 2,3 ngày lên 3,5 ngày và nâng mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế lên trên 110 USD/ngày.

Thứ ba, đổi mới cơ chế huy động tài chính và xúc tiến đầu tư. Đẩy mạnh thu hút vốn FDI và vốn đầu tư từ các tập đoàn tư nhân lớn trong nước với mục tiêu đạt quy mô vốn đầu tư phát triển du lịch trên 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, ban hành chính sách ưu đãi về thuế đất cho các dự án vui chơi giải trí phức hợp quy mô lớn, tạo lập vành đai liên kết tour tuyến với Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang và Phan Thiết.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch. Sở Du lịch - Thương mại phối hợp với các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tổ chức đào tạo lại nghiệp vụ khách sạn, kỹ năng xúc tiến thị trường và nâng cao trình độ ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung cho đội ngũ hướng dẫn viên và nhân viên phục vụ. Mục tiêu đến năm 2015 đạt 100% cán bộ quản lý và trên 70% lao động trực tiếp được cấp chứng chỉ nghề du lịch tiêu chuẩn quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước như Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và các địa phương vùng Tây Nguyên có thể sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng đề án phát triển kinh tế ban đêm, quy hoạch phân khu du lịch và ban hành chính sách kích cầu đầu tư sau hội nhập.

Thứ hai, các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch, khách sạn và lữ hành có thể tham khảo các mô hình liên kết chuỗi giá trị, định giá dịch vụ linh hoạt, và giải pháp chuyển đổi quản trị từ mô hình gia đình sang quản trị doanh nghiệp hiện đại để cải thiện công suất phòng từ mức 56% lên trên 75%.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành sẽ tìm thấy khung phân tích thực chứng sâu sắc về mô hình Kim cương Porter cùng bộ dữ liệu lịch sử phong phú giai đoạn 2000 - 2007.

Thứ tư, các nhà đầu tư tổ chức, quỹ đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng trong nước và quốc tế có thể phân tích cơ cấu chi tiêu và dư địa phát triển hạ tầng dịch vụ cao cấp tại Đà Lạt để đưa ra quyết định rót vốn FDI hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Việc Việt Nam gia nhập WTO tác động trực tiếp như thế nào đến ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng? Gia nhập WTO mở ra cơ hội thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư FDI vào dịch vụ lưu trú, minh chứng qua việc cả nước thu hút 4,64 tỷ USD vốn FDI vào du lịch giai đoạn 2001 - 2005. Tuy nhiên, điều này cũng đặt các doanh nghiệp lữ hành Lâm Đồng vốn có quy mô vừa và nhỏ trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn du lịch đa quốc gia.

Tại sao mức chi tiêu của khách quốc tế tại Lâm Đồng năm 2005 chỉ đạt 79,1 USD mỗi ngày? Mức chi tiêu thấp chủ yếu do sự thiếu hụt các dịch vụ vui chơi giải trí và mua sắm ban đêm, với chi phí giải trí chỉ vỏn vẹn 3,1 USD/ngày. Du khách chủ yếu chi tiền cho phòng nghỉ (17,7 USD) và ăn uống (15,4 USD), sau đó rời đi do thiếu trải nghiệm đa dạng.

Cơ cấu sở hữu doanh nghiệp du lịch Lâm Đồng giai đoạn 2000 - 2006 có đặc điểm gì nổi bật? Khu vực ngoài quốc doanh chiếm ưu thế rõ rệt với 51% tổng số doanh nghiệp thuộc loại hình trách nhiệm hữu hạn và tư nhân, trong khi doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần chiếm 47%. Tuy nhiên, phần lớn cơ sở tư nhân là 750 nhà nghỉ quy mô nhỏ, quản lý mang tính gia đình và thiếu tính chuyên nghiệp.

Làm thế nào để nâng cao công suất sử dụng phòng của du lịch Lâm Đồng vượt mức 56%? Cần tổ chức các sự kiện văn hóa định kỳ như Festival hoa Đà Lạt, liên kết tour liên vùng Biển và Hoa với Nha Trang - Phan Thiết, đồng thời phát triển mạnh phân khúc du lịch hội nghị hội thảo (MICE) để bù đắp lượng khách trong mùa thấp điểm.

Hiệp hội Du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt cần đóng vai trò gì trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh? Hiệp hội cần đóng vai trò nhạc trưởng điều phối giá cả, ngăn chặn hành vi bán phá giá vào mùa thấp điểm và bóp chẹt giá vào mùa lễ hội. Đồng thời, hiệp hội phải đứng ra tổ chức các chương trình xúc tiến thị trường quốc tế chung cho các hội viên.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh lý luận về năng lực cạnh tranh ngành kinh tế và áp dụng sáng tạo mô hình Kim cương của Michael Porter vào phân tích thực tiễn du lịch tỉnh Lâm Đồng.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực giai đoạn 2000 - 2006 với các con số biết nói: 715 cơ sở lưu trú, công suất phòng 56%, khách quốc tế chiếm 5,25% và chi tiêu bình quân 79,1 USD/ngày.
  • Chỉ rõ các nguyên nhân cốt lõi khiến du lịch Lâm Đồng chậm phát triển: thiếu vốn đầu tư hạ tầng, sản phẩm dịch vụ trùng lặp và nguồn nhân lực chưa qua đào tạo chuyên sâu.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ quy hoạch vĩ mô, đa dạng hóa sản phẩm, xúc tiến đầu tư tài chính đến chuẩn hóa nguồn nhân lực hướng tới tầm nhìn 2020.
  • Lộ trình thực thi cần chia thành hai giai đoạn rõ rệt: 2008 - 2015 hoàn thiện hạ tầng cốt lõi và 2016 - 2020 bứt phá trở thành trung tâm du lịch sinh thái nghỉ dưỡng tầm cỡ quốc tế.

Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp du lịch tỉnh Lâm Đồng cần khẩn trương phối hợp hành động, đổi mới tư duy quản trị để hiện thực hóa các giải pháp chiến lược này, đưa thương hiệu du lịch Đà Lạt vươn tầm khu vực và thế giới.