Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị nhân sự trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng quản trị nhân sự tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn. 6 Chương 3: Các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân sự tại Công ty cổ phần du lịch Đồ Sơn. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ NHÂN SỰ 1. Khái niệm quản trị Từ xã hội sơ khai đến xã hội hiện đại ngày nay, không có lúc nào con ngƣời sống cá nhân, riêng lẻ mà có thể tồn tại đƣợc. Con ngƣời phải nằm trong một tập thể, một tổ chức vì tổ chức có thể thực hiện đƣợc những việc mà cá nhân không thực hiện đƣợc. Một gia đình, một doanh nghiệp, một trƣờng học, một cơ quan nhà nƣớc, một đơn vị quân đội … là những ví dụ về tổ chức.
Nhƣ vậy có thể hiểu tổ chức là tập hợp của hai hay nhiều ngƣời cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định, nhằm đạt đƣợc những mục đích chung. Nhƣng nếu một tập hợp nhiều ngƣời hoạt động chung không có sự dẫn dắt, chỉ đạo thì sẽ khó có thể đạt đƣợc mục tiêu chung đã đề ra. Hoặc vẫn có thể đạt đƣợc mục tiêu chung đó nhƣng với hiệu quả thấp, tốn nhiều chi phí, nhân lực, vật lực. Để một tổ chức có thể hoạt động tốt thì cần đến sự quản trị.
Vậy quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tƣợng quản trị nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định trong điều kiện môi trƣờng luôn luôn biến động (Đỗ Hoàng Toàn, 2008). Đối tƣợng quản trị ở đây có thể là nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin. Trong tổ chức thì quản trị là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trƣờng luôn luôn biến động (Nguyễn Thị Liên Diệp, 1996). Quản trị giúp các tổ chức và các thành viên của tổ chức thấy rõ mục đích và hƣớng đi của mình.
Quản trị phối hợp các nguồn lực của tổ chức, giúp gia tăng về giá trị cho tổ chức. Trong môi trƣờng luôn luôn biến động, tạo ra các cơ hội cũng nhƣ nguy cơ bất ngờ thì quản trị giúp các tổ chức thích nghi đƣợc 8 với môi trƣờng, tận dụng tốt hơn các cơ hội cũng nhƣ giảm bớt đƣợc các nguy cơ. Không những thế, quản trị tốt còn làm cho tổ chức có đƣợc những tác động tích cực trở lại môi trƣờng. Khái niệm quản trị nhân sự Quản trị nhân sự là một phần trong quản trị tổ chức với đối tƣợng quản trị chính là con ngƣời.
Có thể nói nhân sự của một tổ chức chính là tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời bao gồm có thể lực và trí lực. Thể lực là sức khỏe của thân thể, phụ thuộc vào sức khỏe của bản thân mỗi ngƣời, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chăm sóc y tế, tuổi tác, giới tính… Trí lực chỉ sự suy nghĩ, hiểu biết, khả năng tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ nhân cách, quan điểm sống, lòng tin… của từng con ngƣời. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp nhƣ là tài chính, vốn, tài nguyên thiết bị…. Đó là nguồn tài nguyên quý giá nhất bởi vì con ngƣời luôn là vấn đề trung tâm và quan trọng bậc nhất trong mọi tổ chức, doanh nghiệp.
Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng thể lực của ngƣời lao động đã đƣợc khai thác gần nhƣ cạn kiệt. Tuy nhiên sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con ngƣời còn mới mẻ và nhiều bí ẩn (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012). Để đạt đƣợc mục đích chung của tổ chức một cách có hiệu quả, thì việc QTNS đóng vai trò hết sức quan trọng, đồng thời nó cũng là một công việc vô cùng khó khăn. Bởi vì nó làm việc với những con ngƣời cụ thể, với những hoàn cảnh, nguyện vọng, sở thích, cảm xúc và văn hóa khác nhau.
Theo giáo sƣ ngƣời Mỹ Dimock “Quản trị nhân sự bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trƣờng hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó” (Nguyễn Thanh Hội, 2000). 9 Còn giáo sƣ Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân sự là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lƣợng công việc của mỗi ngƣời đều đạt mức tối đa có thể” (Nguyễn Thanh Hội, 2000). Nhƣ vậy, QTNS chính là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị, giải quyết các vấn đề liên quan đến con ngƣời và các công việc của họ trong tổ chức hay trong doanh nghiệp. QTNS cũng bao gồm việc hoạch định (lập kế hoạch), tổ chức, điều khiển và kiểm soát các hoạt động của ngƣời lao động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con ngƣời để có thể đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả nhất.
Cụ thể hơn, QTNS là quá trình tuyển dụng nguồn lao động cho các tổ chức, doanh nghiệp, là sắp xếp phân chia nguồn lao động một cách khoa học và có hiệu quả thông qua việc phân tích công việc, bố trí lao động hợp lý, trên cơ sở xác định nhu cầu lao động đồng thời động viên, cung cấp tiện nghi lao động cho con ngƣời trong tổ chức. Đối tƣợng của QTNS chính là những cá nhân, cán bộ công nhân viên và các vấn đề liên quan nhƣ quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong tổ chức (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012). Vai trò của quản trị nhân sự Để nhận biết đƣợc một tổ chức hay một doanh nghiệp có hoạt động tốt hay không, có thành công hay không chính là việc đánh giá lực lƣợng nhân sự của nó. Những yếu tố còn lại nhƣ máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua đƣợc, học hỏi đƣợc, sao chép đƣợc, nhƣng con ngƣời thì không thể.
Nhƣ vậy QTNS có vai trò quan trọng thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. QTNS giúp nhà quản trị đạt đƣợc mục đích thông qua nỗ lực của ngƣời khác (Nguyễn Thị Liên Diệp, 1996). Nhà quản trị đề ra các đƣờng lối, chính sách phát triển của doanh nghiệp và tổ chức, điều khiển, kiểm soát việc thực 10 hiện những chính sách đó. Nhà quản trị chịu trách nhiệm trƣớc kết quả công việc của những ngƣời khác, đó là những ngƣời thừa hành.
Kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của những ngƣời thừa hành. QTNS nhằm củng cố và duy trì số lƣợng và chất lƣợng lao động cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, ngoài ra QTNS còn thực hiện những phƣơng pháp tốt nhất để thúc đẩy ngƣời lao động đóng góp nhiều nhất sức lực cho việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội cho ngƣời lao động thực hiện những mục tiêu riêng của chính mình. Con ngƣời là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự tồn tại hay tiêu vong của tổ chức. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu của tổ chức vì vậy QTNS đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển.
Con ngƣời là chủ thể của mọi hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy việc phát huy đƣợc yếu tố con ngƣời hay không sẽ quyết định kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dƣơng, 2010). Xuất phát từ tầm quan trọng của con ngƣời đối với các hoạt động của doanh nghiệp mà quản trị nhân sự có những vai trò đặc biệt. Những vai trò đó đƣợc thể hiện cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, quản trị nhân sự góp phần phát huy năng lực làm việc của con ngƣời ở mức độ triệt để và hiệu quả. Ở những điều kiện bình thƣờng, con ngƣời chỉ phát huy nỗ lực làm việc ở mức độ trung bình, tuy nhiên nếu đƣợc sử dụng và khích lệ đúng, con ngƣời có thể phát huy năng lực làm việc ở mức cao nhất, thậm chí có thể tạo ra các sáng kiến và thành quả mà bình thƣờng họ cũng không nghĩ tới.
Thứ hai, quản trị nhân sự có vai trò quyết định trong việc thành công hay thất bại của doanh nghiệp, bởi vì: (i) Con ngƣời là chủ thể của mọi hoạt 11 động: “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”1; (ii) Nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của mọi tổ chức: chất lƣợng của đội ngũ nhân lực của doanh nghiệp quyết định năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp chứ không phải là các yếu tố khác trong hàm sản xuất nhƣ vốn, công nghệ và đất đai…; (iii) Con ngƣời là yếu tố phức tạp nhất: mỗi con ngƣời với tƣ cách là một thành viên của xã hội lại vừa có những dấu ấn đặc thù của xã hội vừa có những đặc tính thuộc về tâm sinh lý cá nhân. Vì vậy hành vi của con ngƣời rất phức tạp và thay đổi tuỳ thuộc vào cả hai tác động trên. Một ngƣời tốt có thể có hành vi xấu khi gặp một hoàn cảnh nào đó mà bản thân không “đề kháng” đƣợc trƣớc các cám dỗ của hoàn cảnh này. Thứ ba, quản trị nhân sự là hoạt động nền tảng để trên cơ sở đó, triển khai các hoạt động quản trị khác: mọi quản trị, suy đến cùng đều là quản trị con ngƣời.
Nếu thống nhất rằng, quản trị là tổng hợp những hoạt động đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc mục đích (đảm bảo hoàn thành công việc) thông qua nỗ lực (sự thực hiện) của những ngƣời khác2, thì điều này có nghĩa là mọi quản trị, từ quản trị chiến lƣợc đến quản trị các hoạt động kinh doanh và cả các hoạt động quản trị hậu cần khác cũng chính là thông qua việc phát huy sự thực hiện (lao động) của những ngƣời khác, và đó chính là quản trị nhân sự – quản trị yếu tố con ngƣời trong kinh doanh.