Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong giai đoạn chuyển giao của nền kinh tế thế giới từ cuối thế kỷ XX, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế khách quan tất yếu. Thương mại quốc tế mở rộng nhanh chóng với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn cầu tăng từ 50 tỷ USD trong đầu những năm 1950 lên hơn 5.500 tỷ USD vào năm 1999; tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới bình quân cao gấp 1,2 đến 1,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Sau mốc lịch sử Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Việt Nam thực hiện đường lối Đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại và từng bước tham gia phân công lao động quốc tế. Đến năm 2002, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng 10% so với năm 2001; có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm; xuất khẩu may mặc sang thị trường Mỹ đạt 900 triệu USD, xuất khẩu thủy sản đạt 2,03 tỷ USD và xuất khẩu gạo đạt 3,25 đến 3,5 triệu tấn (đứng thứ 2 thế giới).
Tuy nhiên, trước tiến trình mở cửa thị trường và thực thi các cam kết quốc tế, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam phải đối diện với nhiều rủi ro. Do quy mô vốn và lao động hạn chế, năng lực cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp này còn yếu kém, đứng trước nguy cơ bị đào thải hoặc phá sản trước các tập đoàn lớn trong nước và các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Trong khi đó, DNVVN lại giữ vai trò trụ cột trong việc tạo việc làm, đóng góp ngân sách và duy trì sự ổn định kinh tế - xã hội. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Phạm Thị Bích Ngọc (Lớp Quản lý Kinh tế 42A) đã thực hiện đề tài: “Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề án được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và vai trò kinh tế - xã hội của DNVVN trong điều kiện mở cửa thị trường.
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của DNVVN tại Việt Nam thông qua các chỉ số chi phí, giá bán, chất lượng và các nguồn lực cốt lõi (khoa học công nghệ, vốn, nhân lực).
- Xác định các hạn chế, rào cản thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho khối DNVVN.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh và các yếu tố cấu thành sức cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng khối DNVVN tại Việt Nam trong tương quan so sánh với các quốc gia khu vực Đông Nam Á (ASEAN) và châu Á.
- Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích các dữ liệu kinh tế, xã hội và thể chế trong giai đoạn 1996 - 2002/2003.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Đề án xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các lý thuyết kinh tế học kinh điển, khung phân tích quản trị chiến lược và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:
- Khung định nghĩa DNVVN: Căn cứ theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, DNVVN tại Việt Nam được xác định là cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Về mặt học thuật, tác giả tiếp thu quan điểm phân loại khu vực chính quy và phi chính quy từ tài liệu của PGS. Đồng Xuân Ninh (Đại học Kinh tế Quốc dân).
- Lý thuyết cạnh tranh và phân loại thị trường: Tiếp cận quan điểm của trường phái kinh tế tư sản cổ điển, Từ điển kinh doanh Anh (1992), và công trình nghiên cứu về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường của TS. Nguyễn Quốc Dũng (Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội, 2000). Thị trường được phân định thành cạnh tranh nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo (độc quyền, độc quyền tập đoàn, cạnh tranh mang tính độc quyền).
- Khái niệm và cấp độ năng lực cạnh tranh: Sử dụng định nghĩa của Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Từ điển thuật ngữ kinh tế học (NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2001) và Báo cáo năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 1997). Năng lực cạnh tranh được phân thành 4 cấp độ tương tác hữu cơ: Cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm/hàng hóa.
- Mô hình chiến lược của Michael E. Porter: Vận dụng lý thuyết của M.E. Porter về 3 chiến lược cạnh tranh cơ bản (chiến lược nhấn mạnh chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm, chiến lược trọng tâm hóa) và mô hình 5 lực lượng cạnh tranh cấu trúc ngành (đối thủ hiện tại, đối thủ tiềm ẩn, quyền lực thương lượng của khách hàng, quyền lực của nhà cung ứng, nguy cơ từ sản phẩm thay thế).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai chủ yếu là phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết, thống kê mô tả, và phương pháp so sánh đối chiếu (benchmarking) dữ liệu chi phí sản xuất, giá cả, năng lực công nghệ và khung pháp lý giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ: Tổng cục Thống kê, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Ngân hàng Thế giới (Báo cáo WB năm 2002), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Vật giá Chính phủ, Tạp chí Thương mại, Tạp chí Thị trường Giá cả và Thời báo Kinh tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương I tập trung làm rõ bản chất của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc trưng và vai trò của DNVVN cùng hệ thống lý thuyết về năng lực cạnh tranh. Tác giả phân tích 5 cơ hội lớn của Việt Nam khi tham gia toàn cầu hóa (chuyển đổi chính sách kinh tế đối ngoại theo hướng tự do hóa, khai thác tài nguyên thiên nhiên, tận dụng nguồn lao động dồi dào, duy trì môi trường hòa bình - ổn định chính trị, và phát huy bài học kinh nghiệm sau hơn 17 năm Đổi mới). Song song đó là 5 thách thức trực diện: tiềm lực vật chất yếu kém kèm nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ lạc hậu; sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp thấp; hệ thống tài chính - ngân hàng dễ bị tổn thương; an ninh thông tin - truyền thông phức tạp; và nguy cơ chịu sức ép kinh tế từ các quốc gia phát triển.
Về mặt thể chế, đề án tổng hợp tiêu chí phân định DNVVN theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP:
| Lĩnh vực hoạt động |
Quy mô DN |
Vốn tối đa (đồng) |
Số lao động tối đa (người) |
| Sản xuất công nghiệp và xây dựng |
Toàn khối DNVVN |
10 tỷ |
500 |
|
Trong đó: Doanh nghiệp nhỏ |
1 tỷ |
100 |
| Nông lâm nghiệp và thủy hải sản |
Toàn khối DNVVN |
10 tỷ |
1.000 |
|
Trong đó: Doanh nghiệp nhỏ |
1 tỷ |
200 |
| Thương mại và dịch vụ |
Toàn khối DNVVN |
5 tỷ |
250 |
|
Trong đó: Doanh nghiệp nhỏ |
500 triệu |
50 |
Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu "Những nội dung cơ bản về quản trị DNVVN", tháng 1/2002.
Chương này khẳng định 7 vai trò quan trọng của DNVVN:
- Chiếm số lượng áp đảo (trên thế giới chiếm khoảng 90% tổng số DN; tại Việt Nam chiếm 65,9% tổng số doanh nghiệp nhà nước và 33,6% doanh nghiệp FDI).
- Đóng góp lớn vào GDP (thế giới đạt khoảng 50%; tại Việt Nam theo đánh giá của CIEM đóng góp 24-25% GDP, 31% giá trị sản xuất công nghiệp, 78% mức bán lẻ thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách).
- Tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo (thu hút 7,8 triệu lao động phi nông nghiệp, chiếm 79,2% tổng lao động phi nông nghiệp và 22,5% lực lượng lao động cả nước).
- Tạo tính năng động, linh hoạt, uyển chuyển cho nền kinh tế thị trường.
- Huy động hiệu quả các nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi trong dân cư (7% DNVVN vay không trả lãi và hơn 2% tiếp cận vay ngân hàng).
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thu hút lao động nông nhàn chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
- Là môi trường ươm mầm, đào tạo và rèn luyện các nhà quản trị kinh doanh thực tiễn.
Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay
Chương II đi sâu vào các dữ liệu thực chứng nhằm đánh giá môi trường hội nhập và thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của DNVVN.
1. Môi trường cạnh tranh quốc tế và trong nước:
Việt Nam đã thiết lập quan hệ kinh tế với trên 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia sáng lập Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM, 1995), gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC, 1999), chuẩn bị hoàn tất gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, cam kết 2005) và thực hiện biểu thuế quan hiệu lực chung AFTA (2006) với việc cắt giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5%. Độ phụ thuộc mậu dịch đối ngoại của Việt Nam tăng từ 65% (1995) lên 100% (2000), trong đó độ phụ thuộc xuất khẩu tăng từ 26% lên 48% và chỉ số nhập khẩu từ 39% lên 52%.
Về năng lực cạnh tranh quốc gia, đánh giá của WEF cho thấy vị thế của Việt Nam liên tục ở nhóm thấp: xếp hạng 49/53 quốc gia (1999), 53/59 (2000), 62/75 (2001) và 65/80 (2002). Trong nước, dù quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp đã được mở rộng và bãi bỏ cơ chế giấy phép con, khung pháp lý vẫn tồn tại sự bất bình đẳng rõ nét giữa các thành phần kinh tế theo phân tích của tác giả Lê Xuân Thành (Tạp chí Thương mại, số 22/2001):
| STT |
Tiêu chí so sánh (12 tiêu chí) |
Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) |
Doanh nghiệp Dân doanh |
Doanh nghiệp FDI |
| 1 |
Vốn thành lập và đăng ký kinh doanh |
C |
B |
A |
| 2 |
Giải thể doanh nghiệp |
C |
B |
A |
| 3 |
Phá sản doanh nghiệp |
A |
A |
A |
| 4 |
Vốn vay và tham gia thị trường vốn |
A |
B |
C |
| 5 |
Tuyển dụng lao động |
A |
C |
B |
| 6 |
Chính sách tiền lương, tiền công |
B |
A |
C |
| 7 |
Thuế và các chính sách tài chính |
B |
A |
C |
| 8 |
Chính sách đất đai |
A |
B |
C |
| 9 |
Chuyển giao công nghệ và sở hữu công nghiệp |
B |
A |
C |
| 10 |
Hợp tác kinh doanh và liên doanh với nước ngoài |
A |
B |
C |
| 11 |
Xuất nhập khẩu và xúc tiến thương mại |
A |
B |
C |
| 12 |
Thanh tra, kiểm tra |
B |
A |
C |
| Tổng |
Đánh giá mức độ thuận lợi |
50% loại A (6 tiêu chí) |
25% loại A (3 tiêu chí), 66,7% loại C (8 tiêu chí) |
41,7% loại A (5 tiêu chí) |
Ghi chú đánh giá: A (Thuận lợi nhất), B (Trung bình), C (Kém thuận lợi nhất).
2. Chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa:
Theo kết quả điều tra của VCCI trên 500 DNVVN, điểm số đánh giá khả năng cạnh tranh với đối thủ nước ngoài chỉ đạt 2,1/5 điểm, trong khi cạnh tranh nội địa đạt 2,85/5 điểm. Có 29% DNVVN phải nhập khẩu trên 40% nguyên phụ liệu (một số ngành lên tới 70-80%). Chi phí đầu vào của DNVVN Việt Nam cao hơn 30-50% so với các đối tác trong khối ASEAN và cao hơn 50% so với mức trung bình thế giới (chi phí đầu vào đã tăng 33,4% từ năm 1996 đến 2002).
Chi phí trung gian tại Việt Nam cao vượt trội so với khu vực: cước điện thoại quốc tế đi Nhật Bản cao gấp 3,5 lần Indonesia, 3 lần Thái Lan, 10 lần Singapore; phí vận hành cảng đắt gấp 2 lần Bangkok. Báo cáo của World Bank (tháng 12/2002) phản ánh chi phí đầu tư tại một số đô thị chính ở châu Á:
| Khoản mục chi phí |
Hà Nội |
TP. Hồ Chí Minh |
Singapore |
Bangkok |
Kuala Lumpur |
| Lương tháng công nhân (USD) |
79 - 190 |
76 - 116 |
442 - 596 |
175 |
342 |
| Phí thuê văn phòng (USD/m²/tháng) |
18 - 22 |
14 - 19 |
49,91 |
10,09 |
18 |
| Phí điện thoại tối thiểu (USD/máy/tháng) |
1,86 |
1,86 |
4,78 |
2,29 |
9,21 |
| Giá điện sản xuất - kinh doanh (USD/kWh) |
0,07 |
0,07 |
0,07 |
0,04 |
0,05 |
| Giá nước sản xuất - kinh doanh (USD/m³) |
0,21 |
0,28 |
1,05 |
0,22 - 0,32 |
0,36 |
| Cước vận chuyển container 40 feet (USD) |
1.500 |
1.400 |
500 - 600 |
970 |
1.350 |
| Thuế TNDN mức chuẩn (%) |
25 |
25 |
25,5 |
30 |
28 |
| Thuế GTGT mức cơ bản (%) |
10 |
10 |
3 |
7 |
5 - 15 |
Về giá cả, sản phẩm xi măng sản xuất trong nước có giá thành 50 USD/tấn, cao hơn 39% so với xi măng Thái Lan nhập về cảng Việt Nam (36 USD/tấn). Khi AFTA xóa bỏ hạn ngạch và hạ thuế, giá xi măng Thái Lan giảm xuống 32 USD/tấn (rẻ hơn 56% so với giá sản xuất của Việt Nam). Đối với xuất khẩu gạo, dù đứng thứ 2 thế giới, giá gạo Việt Nam vẫn luôn bị định giá thấp hơn gạo Thái Lan cùng phẩm cấp (ngày 28/10/2003, gạo 5% tấm của Việt Nam đạt 193 USD/tấn so với 198 USD/tấn của Thái Lan; loại 25% tấm đạt 175 USD/tấn so với 179 USD/tấn).
3. Thực trạng các nguồn lực cấu thành năng lực cạnh tranh:
- Khoa học và công nghệ: Khoảng 60-70% công nghệ thuộc dạng thấp và lỗi thời 30-50 năm; công nghệ hiện đại chỉ chiếm 30-40%. Về nguồn gốc máy móc trong công nghiệp: 26% do Liên Xô cung cấp, 24% từ Đông Âu, gần 20% từ ASEAN và Bắc Âu, trên 18% từ các nước khác và phần nhỏ tự chế tạo. Giai đoạn 1991-2000, tỷ lệ trang bị lại máy móc chỉ đạt 14% (tương đương 10% giá trị thiết bị đầu tư của khối FDI); tỷ lệ cơ khí hóa, tự động hóa dưới 10%; hao mòn hữu hình từ 30-50% và có tới 38% thiết bị ở dạng thanh lý vẫn được vận hành. Theo khảo sát của 24 công ty Nhật Bản tại 10 nước ASEAN, điểm trình độ công nghệ của DNVVN Việt Nam chỉ đạt 3,5/10 điểm (xếp trên Myanmar 3,4; Lào 3,0; Campuchia 2,6).
- Vốn kinh doanh: Có 55% DNVVN rơi vào tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng. Vốn đăng ký kinh doanh bình quân/DN dù tăng từ 819,3 triệu đồng (1992) lên 1,012 tỷ đồng (1999), 1,742 tỷ đồng (2002) và 2,6 tỷ đồng (đầu năm 2003) nhưng vẫn ở mức rất thấp. Tỷ lệ tín dụng ngân hàng cấp cho khối DNVVN năm 2001 chỉ chiếm 29% tổng dư nợ toàn hệ thống do thiếu tài sản thế chấp. Vốn lưu động chỉ đáp ứng 60% nhu cầu thực tế; mức trang bị vốn bình quân trên một lao động chỉ đạt 63,2 triệu đồng.
- Nguồn nhân lực: Năm 2002, số lượng lao động trong DNVVN đạt 4.543.944 người (tăng 20,15% so với năm 1996, chiếm 14% tổng lao động xã hội). Tuy nhiên, chất lượng nhân sự rất hạn chế:
- Về đội ngũ chủ doanh nghiệp: 40-45% có trình độ học vấn trung học cơ sở; 35-40% tốt nghiệp THPT, cao đẳng, đại học; 10-15% trình độ tiểu học (cá biệt chưa đọc thông viết thạo). Chỉ có 2-3% chủ DNVVN được đào tạo quản lý chính quy, 20-30% qua tập huấn ngắn hạn dưới 6 tháng, còn lại quản trị thuần túy dựa vào kinh nghiệm.
- Về lực lượng công nhân: Lao động có trình độ THCS chiếm 40-45%; tiểu học và chưa biết chữ chiếm 10-25%; THPT và cao đẳng/đại học chiếm 25-35%. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở khu vực nông thôn chiếm 60-70%. Tính chung năm 2002, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đang làm việc chỉ đạt 22,2%; cơ cấu lao động gồm 74% lao động thủ công, 25% cơ khí và 1% tự động hóa. Hiệu suất khai thác thiết bị chỉ đạt 68-75% công suất thiết kế.
Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Theo đề cương nghiên cứu được công bố ở phần mở đầu, Chương III của đề án hướng đến việc xây dựng hệ thống giải pháp tổng thể giải quyết các điểm nghẽn đã được chỉ ra ở Chương II. Các định hướng chính bao gồm: hoàn thiện môi trường thể chế pháp lý nhằm tạo lập sự bình đẳng giữa khu vực dân doanh với DNNN và FDI; đổi mới công nghệ và thúc đẩy chuyển giao tri thức kỹ thuật; đa dạng hóa các kênh tài trợ vốn phi ngân hàng và tháo gỡ rào cản thế chấp tín dụng; chuẩn hóa quy trình quản trị chi phí để hạ giá thành sản phẩm; và đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như kỹ năng quản trị cho đội ngũ chủ doanh nghiệp.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện các rào cản cạnh tranh: Đề án chỉ rõ năng lực cạnh tranh của DNVVN Việt Nam thời kỳ tiền gia nhập WTO bị kìm hãm bởi 3 nhóm yếu tố cốt lõi: chi phí trung gian và đầu vào cao bất hợp lý, nền tảng công nghệ lạc hậu từ 30 đến 50 năm, và trình độ học vấn/quản trị của chủ doanh nghiệp lẫn tay nghề công nhân quá thấp.
- Minh chứng sự bất bình đẳng thể chế: Thông qua ma trận 12 tiêu chí pháp lý của Lê Xuân Thành (2001), nghiên cứu chỉ ra khu vực dân doanh chịu tới 66,7% tiêu chí ở mức bất lợi nhất (loại C) so với DNNN và khối FDI, là nguyên nhân sâu xa làm giảm sức cạnh tranh của khối kinh tế tư nhân.
- Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chi tiết: Đề án đã tổng hợp nhiều chuỗi số liệu thực tế về chi phí viễn thông, logistics cảng biển, giá điện nước, chênh lệch giá xi măng và giá gạo xuất khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan, làm luận cứ khoa học xác thực cho các đánh giá kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu phản ánh giai đoạn trước năm 2003, thời điểm Việt Nam chưa chính thức là thành viên WTO và Luật Doanh nghiệp năm 2005 chưa ra đời.
- Hạn chế về dung lượng văn bản: Văn bản trích xuất dừng lại ở phần phân tích thực trạng nguồn nhân lực thuộc Chương II, chưa hiển thị trọn vẹn nội dung chi tiết các tiểu mục giải pháp thuộc Chương III.
- Hướng mở rộng: Bổ sung các nghiên cứu định lượng về tác động sau khi hoàn tất các cam kết cắt giảm thuế quan của AFTA và WTO đối với từng phân ngành DNVVN cụ thể (chế biến nông lâm thủy sản, cơ khí chế tạo, thương mại bán lẻ).
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý Kinh tế, Kinh tế học, Quản trị Kinh doanh đang thực hiện đề án môn học hoặc khóa luận tốt nghiệp về chủ đề năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế và chính sách công cần tư liệu thực chứng về bức tranh thể chế, chi phí đầu tư và thực trạng công nghệ của khu vực DNVVN Việt Nam giai đoạn 1996 - 2003.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí xác định DNVVN tại Việt Nam được tác giả sử dụng theo căn cứ pháp lý nào?
Tác giả căn cứ theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ: DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người.
2. Điểm số năng lực cạnh tranh của DNVVN Việt Nam đối với các đối thủ nước ngoài đạt mức bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra của VCCI trên 500 DNVVN, khả năng cạnh tranh của DNVVN Việt Nam với các đối thủ nước ngoài chỉ đạt 2,1 điểm trên thang điểm 5 (trong khi khả năng cạnh tranh với đối thủ trong nước đạt 2,85 điểm).
3. Trình độ khoa học công nghệ của DNVVN Việt Nam được xếp hạng như thế nào trong khối ASEAN?
Theo điều tra của 24 công ty Nhật Bản tại 10 nước ASEAN, trình độ khoa học công nghệ của DNVVN Việt Nam đạt 3,5 điểm trên thang điểm 10, đứng thứ 7/10 nước (chỉ xếp trên Myanmar 3,4 điểm; Lào 3,0 điểm; và Campuchia 2,6 điểm).
4. Cơ cấu trình độ học vấn của đội ngũ chủ DNVVN tại thời điểm nghiên cứu có đặc điểm gì?
Có 40-45% chủ doanh nghiệp có trình độ trung học cơ sở; 35-40% có trình độ THPT, cao đẳng hoặc đại học; 10-15% ở trình độ tiểu học. Chỉ có 2-3% chủ doanh nghiệp được đào tạo kiến thức quản trị kinh doanh chính quy.
5. Mức chênh lệch chi phí cước viễn thông quốc tế giữa Việt Nam và các nước trong khu vực là bao nhiêu?
Cước điện thoại quốc tế từ Việt Nam đi Nhật Bản cao gấp 3,5 lần so với Indonesia, gấp 3 lần so với Thái Lan và gấp 10 lần so với Singapore.
Kết luận
Đề án môn học của tác giả Phạm Thị Bích Ngọc đã phác họa bức tranh toàn diện và khách quan về thực trạng năng lực cạnh tranh của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong giai đoạn tiền gia nhập WTO. Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn giữa khung lý thuyết kinh điển của Michael Porter, định chế quản lý của OECD, WEF với các số liệu thực tế về chi phí, nguồn vốn, công nghệ và lao động tại Việt Nam. Các phát hiện trong đề án khẳng định việc tái cơ cấu nguồn lực nội tại và cải cách thể chế kinh tế là điều kiện tiên quyết để DNVVN đứng vững trước sức ép toàn cầu hóa.